CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về leuprolid acetat 1. Công thức hóa học Hình 1. Công thức phân tử leuprolid acetat - Công thức phân tử: C59H84N16O12.
- Khối lượng phân tử: 1269,45 g/mol. - Danh pháp IUPAC: 5-oxo-L-prolyl-L-histidyl-L-tryptophyl-L-seryl-L-tyrosyl- D-leucyl-L-leucyl-L-arginyl-N-ethyl-L-prolinamid acetat. - Công thức viết tắt: pGlu1-His2-Trp3-Ser4-Tyr5-Leu6-Leu7-Arg8-Pro9- NHEt. - Tên chung quốc tế: leuprolid acetat.
Tính chất vật lý, hóa học ➢ Tính chất vật lý - Cảm quan: bột màu trắng hoặc gần như trắng, dễ hút ẩm [12]. - Độ tan: tan tốt trong nước, acid acetic và DMSO (100 mg/mL, 25oC), tan tự do trong methanol và ít tan trong ethanol, khó tan trong ether và hexan [13]. - Góc quay cực riêng: [α]20 D từ -38° đến -42° (dung dịch 1% kl/kl trong acid acetic băng của dược chất khan dạng base) [12]. - Nhiệt độ phân hủy: 174,2°C [23].
➢ Tính chất hóa học - Leuprolid acetat là muối của acid acetic và nonapeptid leuprolid có pKa lần lượt là 6,0 – 10,0 – 13,0. Dung dịch chứa 0,10 g muối leuprolid acetat trong 10 mL nước có pH nằm trong khoảng từ 5,5 đến 7,5 [13]. - Leuprolid acetat dễ dàng bị thủy phân trong môi trường kiềm mạnh hoặc acid mạnh [74]. Độ ổn định Quá trình phân hủy của leuprolide acetat (LA) diễn ra tương đối phức tạp, thường bao gồm các giai đoạn sau: thủy phân (phân cắt đầu N và đuôi C của pGlu1, His2, Trp3, Ser4, Tyr5, Leu6 và Leu7; loại bỏ nhóm thế trên Cβ của Ser4; acetyl hóa Ser4, Tyr5 và Leu6; đóng vòng His2 và Trp3); kết tụ; đồng phân hóa D,L (His2, Trp3, Ser4, Tyr5, Leu6 và Leu7) và oxy hóa (Trp3) [45].
Năm 2016, Mehdi Rahimi và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng một số yếu tố tới độ ổn định của LA trong môi trường nước [63]. Kết quả thu được cụ thể như sau: - Ảnh hưởng của oxy hòa tan: việc dùng nước loại oxy để pha chế đệm PBS đã làm tăng độ ổn định của dung dịch LA sau 35 ngày bảo quản ở 4°C. - Ảnh hưởng của pH: với cùng điều kiện về nhiệt độ bảo quản (37°C) và môi trường hòa tan (đệm PBS), sau 35 ngày đánh giá độ ổn định, nồng độ LA trong môi trường pH 7,4 cao hơn hẳn so với các môi trường pH acid (2-4). Ứng dụng trong điều trị LA là một nonapeptid tổng hợp, được biết đến như một chất chủ vận thụ thể hormon giải phóng gonadotropin tự nhiên (GnRH).
Nhờ sự có mặt của D-leucyl trong cấu trúc hóa học (hình 1.1) mà độ ổn định sinh học của LA tăng lên đáng kể [68], dẫn đến thời gian bán hủy của LA (3 giờ) dài hơn GnRH nội sinh (3-4 phút) [37]. Sinh khả dụng của leuprolid acetat qua đường tiêm tĩnh mạch và đường tiêm dưới da là tương đương nhau [74]. Một số nghiên cứu trên động vật và trên người đã chứng minh rằng LA thúc đẩy sự bài tiết của tuyến yên, làm tăng mạnh nồng độ LH và FSH trong huyết thanh, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nồng độ hormon sinh dục trong cơ thể trong vòng 3 ngày kể từ khi sử dụng liều điều trị đầu tiên. Tuy nhiên, sự kích thích liên tục vào tuyến yên trong thời gian dài bằng liều điều trị LA sẽ tạo ra tín hiệu “feedback âm tính”, làm ức chế hoạt động của tuyến yên cũng như ức chế bài tiết LH và FSH, từ đó làm giảm nồng độ hormon sinh dục trong vòng 2-4 tuần.
Đây chính là cơ sở cho các ứng dụng lâm sàng của LA trong sản phụ khoa và ung thư học [74]. Leuprolid acetat được chỉ định để điều trị ung thư tuyến tiền liệt, lạc nội mạc tử cung, u xơ tử cung, dậy thì sớm thể trung ương và có thể được sử dụng cho kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm [74]. Ngày nay, LA đang được các nhà khoa học nghiên cứu, đánh giá tác dụng trong điều trị bệnh Alzheimer, hội chứng buồng trứng đa nang, hội chứng dạ dày ruột kích thích, hội chứng tiền mãn kinh và có thể là một biện pháp tránh thai thay thế tiềm năng [74]. Tổng quan về vi cầu PLGA-LA 1.
Vi cầu PLGA-LA Vi cầu là các tiểu phân hình cầu, thường có kích thước từ 1 đến 800 µm, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: y sinh học, mỹ phẩm, gốm, điện tử,. Các vi cầu sở hữu kích thước từ 50 đến 100 μm có thể dễ dàng tiêm vào cơ thể mà không gây đau đớn hay khó chịu [16]. Kể từ lần đầu tiên được Cục quản lý thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt vào năm 1986, hiện nay trên thế giới đã có khoảng 19 sản phẩm thuốc chứa vi cầu PLGA nạp nhiều loại dược chất khác nhau như: Lupron Depot® (vi cầu PLGA nạp dược chất leuprolid acetat giải phóng kéo dài trong 1, 3, 4, hoặc 6 tháng); Sandostatin® LAR (vi cầu PLGA nạp dược chất octreotid acetat giải phóng kéo dài trong 1 tháng); Zilretta® (vi cầu PLGA nạp dược chất triamcinolon acetoamid giải phóng kéo dài trong 3 tháng);. Vi cầu PLGA có nhiều ưu điểm nổi bật, cụ thể là: tính tương thích và tương hợp sinh học cao; có khả năng bao gói nhiều loại dược chất khác nhau như: peptid, protein, ADN, kháng sinh, kháng thể, chất chống oxy hoá, chất chống viêm,.; có khả năng giải phóng thuốc kéo dài từ nhiều tuần đến nhiều tháng, giúp giảm số lần dùng thuốc và làm tăng tuân thủ điều trị của bệnh nhân;.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu, sản xuất vi cầu PLGA hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều thách thức do: khó nâng cấp quy mô sản xuất, khó duy trì được sự ổn định của dược chất và khó kiểm soát được tốc độ giải phóng thuốc,. Đối với dược chất có liều dùng hàng ngày thấp, phải dùng đường tiêm, thời gian điều trị kéo dài từ vài tháng đến vài năm như leuprolid acetat thì việc bào chế vi cầu PLGA phân hủy sinh học là hướng nghiên cứu phù hợp. Một số phương pháp đã được ứng dụng để bào chế vi cầu PLGA có thể kể đến như: vi lưu, phun sấy, nhũ hóa kép kết hợp bốc hơi dung môi, phân tách đồng pha,. Trong đó, nhũ hóa kép kết hợp bốc hơi dung môi là phương pháp phổ biến nhất được sử dụng để bào chế vi cầu PLGA-LA.
Phương pháp này phù hợp với các dược chất dễ tan trong nước như leuprolid acetat [56]. Tuy nhiên, phương pháp có một số nhược điểm như: nhũ tương kép kém bền, kích thước vi cầu tạo thành có thể không đồng đều, quy trình nhiều bước phức tạp nên cần phải kiểm soát chặt chẽ các thông số quy trình, dược chất dễ tan trong nước nên dễ bị thất thoát ra pha nước ngoại làm giảm hiệu suất vi cầu hóa và khó nâng cấp quy mô [48]. Quá trình giải phóng dược chất từ vi cầu PLGA Quá trình giải phóng dược chất có kiểm soát từ vi cầu PLGA tương đối phức tạp, tuy nhiên có thể tóm gọn thông qua bốn cơ chế chính, bao gồm: khuếch tán qua hệ thống lỗ xốp, khuếch tán qua mạng lưới polyme, bơm thẩm thấu và ăn mòn polyme (hình 1. 4 (1) Khuếch tán qua hệ thống lỗ xốp: đây được xem là cơ chế giải phóng dược chất chủ yếu của vi cầu PLGA.
Nước từ môi trường thử giải phóng, thông qua hệ thống lỗ xốp, xâm nhập được vào mạng lưới polyme, giúp hòa tan dược chất đang bị giam giữ bởi các chuỗi PLGA. Dưới tác động của chênh lệch gradient nồng độ giữa môi trường nội và môi trường ngoại vi cầu, dược chất hòa tan sẽ được khuếch tán ra ngoài thông qua hệ thống các lỗ xốp dày đặc trên bề mặt vi cầu. Trong nhiều nghiên cứu, cơ chế này xuất hiện vào thời kì giải phóng dược chất đầu tiên, ngay trước khi bắt đầu giai đoạn xói mòn [26], [18], [49]. Quá trình khuếch tán phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc xốp của polyme, sự đóng – mở lỗ xốp trong quá trình giải phóng dược chất và chênh lệch gradient nồng độ [62].
(2) Khuếch tán qua mạng lưới polyme: cơ chế này thường gặp với các dược chất kỵ nước, tại đó các chuỗi polyme bên trong vi cầu đóng vai trò như một hệ thống điều tiết có khả năng kiểm soát tốc độ giải phóng dược chất. Do quá trình hấp thụ nước và ăn mòn mạng lưới polyme, con đường khuếch tán dược chất xuyên qua các lớp PLGA trở nên ngắn hơn, tốc độ giải phóng dược chất tăng lên đáng kể. Khác với cơ chế khuếch tán qua lỗ xốp, tốc độ khuếch tán qua cốt polyme phụ thuộc vào tính linh động của chuỗi PLGA, cụ thể khả năng khuếch tán dược chất sẽ tăng lên khi mạng lưới polyme chuyển từ trạng thái thủy tinh sang trạng thái cao su [69]. (3) Bơm thẩm thấu: cơ chế này xuất hiện khi vi cầu tiếp xúc với môi trường thử giải phóng, hấp thu nước, làm tăng áp suất thẩm thấu, từ đó thúc đẩy quá trình vận chuyển dược chất từ trong lòng vi cầu ra môi trường bên ngoài.
Cùng với sự xâm nhập liên tục của nước qua các lớp polyme, quá trình ăn mòn toàn bộ diễn ra ở trong lòng vi cầu nên kích thước vi cầu gần như không đổi. Quá trình này diễn ra theo 3 giai đoạn. Ban đầu, KLPT polyme giảm mạnh nhưng chưa tạo ra các monome hòa tan. Sau đó, KLPT polyme giảm nhanh, tạo ra các oligome và monome tan được.
Cuối cùng, các oligome bị phân hủy thành các monome, mạng lưới PLGA bị ăn mòn toàn bộ [10]. Khi quá trình ăn mòn bề mặt diễn ra, kích thước vi cầu giảm nhanh. Quá trình này phụ thuộc vào sự phân hủy sinh học của PLGA trong môi trường nước thông qua sự cắt đứt mạch polyme tại các liên kết este [7], [8]. Các cơ chế giải phóng dược chất từ vi cầu PLGA A: khuếch tán qua hệ thống lỗ xốp, B: khuếch tán qua mạng lưới polyme, C: bơm thẩm thấu, D: ăn mòn toàn bộ, E: ăn mòn bề mặt.
Mỗi cơ chế giải phóng dược chất là kết quả của hàng loạt các quá trình hóa lý phức tạp xảy ra bên trong vi cầu và được thể hiện trên hình 1. Các quá trình hóa lý xảy ra bên trong vi cầu dẫn đến sự giải phóng dược chất 6 Sự phân hủy PLGA diễn ra nhanh ở giai đoạn ban đầu (khoảng 30%) và chậm ở giai đoạn sau [62]. Vì vậy, quá trình giải phóng dược chất từ vi cầu PLGA tuân theo mô hình hai pha [58] hoặc ba pha [55], [76], [80], trong đó mô hình giải phóng dược chất thường gặp là mô hình ba pha [71]. Mô hình ba pha bao gồm: pha giải phóng ồ ạt ban đầu (pha burst), pha giải phóng chậm (pha lag) và pha giải phóng nhanh (pha erosion).