CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 KHÁI QUÁT VỀ HỌ CÚC (ASTERACEAE) VÀ CHI XANTHIUM 1.1 Họ Cúc (Asteraceae) [7] Họ Cúc (danh pháp khoa học: Asteraceae hay Compositae), còn gọi là họ Hướng dương, họ Cúc tây, là một họ thực vật có hoa hai lá mầm. Tên gọi khoa học của họ này có từ chi Aster (Cúc tây). Asteraceae là họ lớn nhất trong Magnoliophyta.000 loài phân bố rộng khắp trên thế giới nhưng phổ biến nhất tại khu vực ôn đới và miền núi nhiệt đới. Các loài thuộc về họ Cúc có các đặc trưng thực vật sau: Cụm hoa: Cụm hoa dạng đầu.
Bao phấn hữu tính, tức là với các nhị hoa kết hợp lại với nhau tại các gờ của chúng bởi các bao phấn, tạo thành ống. Bầu nhụy với sự phân bổ cơ bản của các noãn hoa. Các noãn hoa trên một bầu nhụy. Quả là loại quả bế (tạo thành từ một lá noãn và không nẻ ra khi chín).
Các sesquiterpen có mặt trong tinh dầu, nhưng không có các iridoid. Họ Asteraceae bao gồm chủ yếu các cây thân cỏ, cây bụi và một số rất ít cây thân gỗ. Lá của họ này có thể mọc đối, so le hoặc ít phổ biến hơn là kiểu mọc vòng. Lá có thể là lá đơn có hình lông chim hoặc lá kép hình chân vịt và không có lá kèm.
Hoa được chia làm hai kiểu cơ bản: hình ống đối xứng tỏa tia hay loại được tạo hình dây đối xứng hai bên. Hoa có thể là đơn tính hay lưỡng tính tùy loại. Họ Asteraceae chia làm ba bộ lớn: - Heliantheceae; Ninh Thế Sơn 3 z Luận Văn Thạc Sĩ 2011-2013 - Lactuceae; - Senecionceae. Họ Asteraceae là họ có số loài làm thuốc lớn nhất trong giới thực vật, có khoảng 51 loài thường làm thuốc, trong đó có 18 loài dùng trong công nghiệp dược là Actiso, Bạch truật, Cỏ nhọ nồi, Cỏ ngọt, Cúc hoa, Cúc tần, Hồng hoa, Hy thiêm, Ké đầu ngựa, Khoản đông hoa, Mần tưới, Mộc hương, Ngải cứu, Ngưu bàng, Sài đất, Thương truật, Thanh hao hoa vàng, Tử uyển.2 Chi Xanthium Xanthium là một chi của loại cây có hoa trong họ Cúc (Asteraceae) và là các loài cây phổ biến ở châu Mỹ và châu Á.
Chúng thuộc loại cây thảo nhất niên cao khoảng 50-120 cm, lá mọc so le, có mép răng cưa. Không giống như các chi khác thuộc họ Cúc với quả phủ lông ở đầu, quả Xanthium cứng, có nhiều gai nhọn, hình cầu hoặc oval dễ bám vào quần áo hoặc da động vật. Theo tài liệu [1] chi Xanthium hiện có 25 loài trên thế giới, ở Việt Nam có hai loài là Xanthium strumarium L. và Xanthium inaequilaterum L.
Các loài của chi Xanthium được sử dụng như một loại thuốc thảo mộc cổ truyền trong một thời gian dài ở các nước phương Đông.2 ĐẶC ĐIỂM CÂY KÉ ĐẦU NGỰA (XANTHIUM STRUMARIUM L.1 Đặc điểm thực vật Ké đầu ngựa (Tên khoa học: Xanthium strumarium L. Là loại cây thuộc thân thảo (thân mềm yếu, vòng đời ngắn, không chứa lignin). Quả có răng móc, được dùng làm thuốc gọi là Thương Nhĩ Tử chữa phong thấp hay mụn nhọt [3]. Ninh Thế Sơn 4 z Luận Văn Thạc Sĩ 2011-2013 Hình 1: Ké đầu ngựa Hình 1: Ké đầu ngựa (Xanthium strumarium L., Asteraceae) Ké đầu ngựa (Xanthium strumarium L.) thuộc cây thân thảo, là cây nhất niên, ít có nhánh, cao từ 50 đến 80 cm.
Thân có khía dọc, có lông nhám, màu lục, đôi khi có chấm tím. Lá hình tim hoặc bầu dục có xẻ 5 múi, có răng cưa không đều, hai mặt lá có lông cứng, bề dài 4-10 cm, ngang 4-12 cm. Cụm hoa ở đầu cành hoặc kẽ lá, màu lục nhạt, gồm 2 loại đầu cùng gốc. Đầu trên nhỏ, mang hoa lưỡng tính, những đầu khác mang hoa cái.
Quả dạng chập đôi, hình bầu dục, có gai, mỗi trái dài từ 12- 15 mm, ngang 7 mm. Nếu là quả đơn thì dài 12 mm, ngang 6 mm, hơi dẹp, một mặt bằng, một mặt lồi. Bên trong có hai hột. Trên thế giới Ké đầu ngựa được tìm thấy ở nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Campuchia.
Ở Việt Nam, cây Ké đầu ngựa mọc hoang ở nhiều nơi, những vùng núi ở độ cao dưới 1.500 m đến những vùng đồng bằng ven Ninh Thế Sơn 5 z Luận Văn Thạc Sĩ 2011-2013 biển. Cây Ké đầu ngựa mọc ven đường hay trên các nương rẫy, bờ ruộng. Ngày nay, do nhu cầu, nhiều nơi đã trồng cây Ké đầu ngựa làm thuốc [8].2 Đặc điểm sinh thái [8] Tùy vào điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng từng vùng mà các loài Xanthium mọc phổ biến cũng khác nhau. Ở Việt Nam và Trung Quốc phổ biến loài Xanthium strumarum L.
Nhưng với một số quốc gia Nam Mỹ với điều kiện khí hậu ôn đới như Chile thì Xanthium spinosum L. lại là phổ biến. Cây Ké đầu ngựa có thể sống trên nhiều loại đất khác nhau, cây bắt đầu mọc vào mùa Xuân sinh trưởng và phát triển nhanh trong mùa mưa ẩm, sang mùa Hạ cây ra hoa, kết trái, cuối mùa Hạ sang mùa Thu quả chín. Cây ưa ánh sáng và có thể chịu hạn, thường mọc thành đám ở ven đường, vùng đồi, bãi hoang, bờ sông.
Ngày nay do nhu cầu, Ké đầu ngựa được nhân dân ta đem vào gieo trồng. Nó được trồng vào mùa Xuân. Đào đất thành những hốc sâu 10-15 cm, mỗi hốc cách nhau 50-60 cm. Cho tro hay đất song, đất phốt phát vào rồi cho mỗi hốc 3-4 hột.
Phủ một ít đất lên, tưới ẩm vừa phải hằng ngày. Sau độ 10 ngày cây mọc. Khi cây cao độ 6-7 cm có thể đem trồng ở chỗ khác. Vào cuối mùa hè hay đầu mùa thu là có thể thu hoạch cả quả lẫn cây (đem sấy khô hoặc phơi khi thu hoạch) [8].
Cần phân biệt cây Ké đầu ngựa với cây Ké hoa đào (Urena lobata L.) và cây Ké hoa vàng (Sida rhombifolia L. Hai cây này nhỏ và thấp hơn, có trái nhỏ, không có hình thoi như trái Ké đầu ngựa. Ninh Thế Sơn 6 z Luận Văn Thạc Sĩ 2011-2013 Ké hoa đào Ké hoa vàng Ké đầu ngựa Hình 2: Ké hoa đào, Ké hoa vàng, và Ké đầu ngựa 1.3 Công dụng trong y học cổ truyền Cây Ké đầu ngựa có vị ngọt, tính ôn, hơi độc, có tác dụng làm đổ mồ hôi, tán phong, trị các chứng phong hàn, đau nhức, phong tê thấp, tê dại, mờ mắt, chân tay co giật, uống lâu ích khí [8]. Lá Ké đầu ngựa đắng và chát.
Ở Việt Nam, lá được dùng làm thuốc hoạt nhuận. Với rễ cây, chắt lấy nước đem đắp vào chỗ ung nhọt [8]. Hoa có tính bồi bổ sức khỏe, an thần, giúp ra mồ hôi. Người Malaysia dùng làm nước sát trùng [8].
Hiện nay Ké đầu ngựa là một vị thuốc thường dùng trong y học dân gian Việt nam, Trung quốc để chữa mụn nhọt, lở loét, bướu cổ, ung thư phát bối (đằng sau lưng), mụn nhọt không đầu, đau răng, đau cổ họng, viêm mũi [3]. Ké đầu ngựa (Thương Nhĩ Tử) thường được nhân dân Trung Quốc thường chế thành cao Thương Nhĩ còn gọi là Vạn ứng cao chữa lở loét, mụn nhọt. Cách làm như sau: từ tháng 5-9, hái toàn cây về phơi khô, cắt nhỏ nấu với nước, lọc và cô thành cao mềm. Khi uống hoà với nước âm ấm, mỗi ngày dùng 6-8 g cao.
Uống luôn từ 1/2 tháng đến 2 tháng [3]. Ninh Thế Sơn 7 z Luận Văn Thạc Sĩ 2011-2013 Có thể chế thành thuốc viên Thương Nhĩ Hoàn như sau: Bỏ rễ, rửa sạch, cắt ngắn cho vào nồi nấu với nước sôi trong 1 giờ, lọc lấy nước, bã còn lại thêm nước, nấu sôi một giờ nữa, lọc và ép lấy hết nước. Hợp cả hai nước lại, cô thành cao mềm. Khi lấy que nhúng vào cao, nhỏ lên giấy, giọt cao không loang ra nữa là được.
Sau đó thêm vừa đủ bột vào (chừng 1/3 lượng cao) trộn đều chế thành viên [3]. Nhân dân Liên Xô cũ dùng Ké đầu ngựa để chữa bướu cổ, các bệnh mụn nhọt, nấm tóc, hắc lào, lỵ và đau răng. Ở Ấn Độ, người ta dùng Ké đầu ngựa trị sốt rét, làm toát mồ hôi, trị bệnh tràng nhạc, ung thư, quả làm dịu kích thích, trị bệnh đậu mùa. Gần đây theo Đỗ Tất Lợi Và Phạm Kim Loan, với cây Ké đầu ngựa thu hái ở các tỉnh miền núi như Lạng Sơn, Cao Bằng, Hòa Bình thì tất cả các bộ phận của cây (trái, thân, lá) đều chứa hàm lượng iot lớn, trung bình vào khoảng 150 µg iot trong một gam thân, lá hay trái.
Do đó, cây Ké đầu ngựa được dùng để phòng ngừa và chữa bệnh bướu cổ. Nhu cầu hàng ngày của cơ thể về iot là 200-300 µg; mỗi ngày, một người chỉ cần uống 1-2 gam cây hay trái Ké đầu ngựa phơi khô. Trong 2 năm 1969-70, Tổng cục Lâm nghiệp Việt nam đã dùng cao Ké đầu ngựa chế thành viên chữa bướu cổ tại một số lâm trường miền núi. Kết quả đạt trên 80% người khỏi bệnh [8].
Ngoài ra, Ké đầu ngựa còn có tác dụng làm giảm cường độ co bóp của tim, giảm thân nhiệt và lợi tiểu. Hoạt chất xanthumin có tác dụng ức chế thần kinh trung ương. Đặc biệt, Ké đầu ngựa còn có tác dụng kháng các vi khuẩn Gram và kháng nấm [9]. Ké đầu ngựa chữa thấp khớp, viêm khớp: Ké đầu ngựa 12 g, cỏ Xước 40 g, Hy thiêm 28 g, Thổ phục linh 20 g, cỏ Nhọ nồi 16 g, Ngải cứu 12 g.
Tất cả sao vàng, sắc nấu uống thường xuyên trong ngày [9]. Chữa mụn nhọt, chữa lở: Ké đầu ngựa 10 g, Kim ngân hoa 20 g, làm dạng chè thuốc, đóng 30 g/ gói, mỗi ngày uống 1 gói, hãm nước sôi uống cả ngày. Hoặc Ké Ninh Thế Sơn 8 z Luận Văn Thạc Sĩ 2011-2013 đầu ngựa 10 g, Bồ công anh 15 g, Sài đất 10 g, Kim ngân hoa 5 g, Cam thảo đất 2 g. Tất cả bào chế thành dạng chè thuốc, trọng lượng của 1 gói là 42 g, mỗi ngày dùng 1 gói, cho hãm nước sôi uống trong ngày [9].
Chữa đau răng: Sắc nước quả Ké đầu ngựa ngựa ngậm nhiều lần rồi nhổ ra [9]. Chữa viêm mũi dị ứng, tăng tiết dịch: Quả Ké đầu ngựa sao vàng, tán bột, 4- 7 g/ ngày [9]. Chữa phù thũng chưa rõ nguyên nhân, tiểu tiện ít: Thương Nhĩ Tử thiêu tồn tính, Đinh lịch, các vị bằng nhau, tán nhỏ, pha với nước uống trong ngày, mỗi lần 8 g, uống 2 lần/ngày [9]. Chữa bướu cổ: Quả Ké đầu ngựa sao vàng, sắc, đun sôi trong 15 - 20 phút, uống 4 - 5 g trong ngày [9].
Chữa mũi chảy nước trong, đặc: Tán trái Ké đầu ngựa sao vàng thành bột. Chữa phong khí mẩn ngứa: Bột lá Ké đầu ngựa 8 g uống với rược ngâm Đậu đen.