Đặt vấn đề Dong riềng là một loại cây trồng sinh trưởng, phát triển mạnh, có khả năng thích ứng rộng nên dong riềng trồng được trên tất cả các loại đất kể cả các vùng đất nghèo dinh dưỡng, có khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận đặc biệt là chịu hạn, năng suất củ tươi có thể đạt từ 45-60 tấn/ha, hàm lượng tinh bột 13,36-16,4% (Nguyễn Thiếu Hùng và CS, 2010) [6]. Do có hàm lượng tinh bột khá cao nên củ dong riềng thường dùng để chế biến tinh bột, chăn nuôi gia súc, đặc biệt là sử dụng để làm miến dong, bánh đa, bánh mì, bánh bao, kẹo… Ngoài ra, thân, lá còn dùng cho chăn nuôi gia súc nên góp phần tận dụng thúc đẩy chăn nuôi phát triển. Theo đánh giá của người dân, dong riềng dễ trồng, ít tốn công chăm sóc nên có hiệu quả kinh tế cao. Một ha dong riềng cho doanh thu 80-100 triệu đồng, trừ chi phí người dân có thể lãi trung bình khoảng 60-80 triệu đồng/ha (thu từ củ).
Trồng dong riềng trên diện tích lớn hoặc chế biến thành tinh bột có thể cho lãi nhiều hơn. Hiện nay nhiều nơi đã mạnh dạn phát triển dong riềng và đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần xóa đói giảm nghèo như: Bắc Cạn, Cao Bằng, Sơn La, Hòa Bình…Dong riềng là loại cây có năng suất sinh khối lớn (đạt từ 40-70 tấn củ và 50-60 tấn lá/ha) nên hàng năm dong riềng lấy đi từ đất lượng dinh dưỡng khá lớn. Vì vậy, bón phân là một trong những biện pháp để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, tăng năng suất cây trồng. Thực tế cho thấy, người dân sử dụng phân khoáng vô cơ nhiều, trong khi đó lại không sử dụng phân chuồng vì chăn nuôi chưa phát triển.
Mặt khác, nhiều trại chăn nuôi đều xử lý hầm BIOGAS. Do lạm dụng phân hóa học, ít sử dụng phân chuồng nên về lâu dài sẽ dẫn đến giảm năng suất và chất lượng nông sản. Vì thế, sử dụng phân hữu cơ vi sinh đã được nông dân áp dụng để 2 tăng hiệu quả sản xuất và phát triển kinh tế của địa phương một cách toàn diện, giải pháp tốt nhất là sử dụng nguyên liệu tại chỗ. Khai thác hiệu quả nguồn hữu cơ tại địa phương để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng nhằm ổn định năng suất, chất lượng, nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Để từng bước thay đổi quan niệm trong việc cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng là bằng con đườ ng hữu cơ vi sinh, giảm dần và tiến tới thoát ly sự phụ thuộc vào phân hóa học để hướng tới một nền nông nghiệp sạch và bền vững. Hiện nay chưa có nghiên cứu cụ thể về lượng phân vi sinh áp dụng trong sản xuất dong riềng. Do vậy, việc thử nghiệm phân vi sinh thay thế một phần phân khoáng bón cho cây dong riềng là cần thiết để có quy trình bón phân phù hợp tại địa phương mà không ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng. Xuất phát từ các vấn đề nêu trên để đáp ứng yêu cầu của thực tế sản xuất để góp phần vào việc tìm hiểu nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón nói chung và phân hữu cơ nói riêng tôi được giao nhiệm vụ tiến hành đề tài: “Ảnh hƣởng của lƣợng phân vi sinh NTT đến sinh trƣởng và năng suất của dong riềng tại trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Xác định được lượng phân vi sinh NTT thích hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất dong riềng, góp phần nâng cao đời sống cho người sản xuất. Yêu cầu Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân NTT đến khả năng sinh trưởng của dong riềng. Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân vi sinh NTT đến tình hình sâu, bệnh hại dong riềng.
3 Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân vi sinh NTT đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất cây dong riềng. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Thực hiện đề tài giúp sinh viên tiếp cận được với công tác nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã học vào thực hiện đề tài một cách có hiệu quả. Qua đó giúp sinh viên nâng cao trình độ chuyên môn và phương pháp nghiên cứu ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu đề tài là cơ sở để xác định mức phân bón thích hợp cho cây dong riềng sinh trưởng, phát triển tốt, đạt năng suất cao và đảm bảo chất lượng.
Thay đổi một phần tập quán canh tác của nông dân tại địa phương. Tạo điều kiện phát triển tốt hơn về cây dong riềng nói riêng và cây có củ nói chung tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Từ đó mở rộng sản xuất sang các tỉnh lân cận. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài Quá trình sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của cây trồng phụ thuộc vào tác dụng tổng hợp của 4 yếu tố: ánh sáng, nhiệt độ, nước và dinh dưỡng. Trong điều kiện sản xuất, việc điều khiển các yếu tố để tăng cường sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng rất khác nhau. Điều khiển chế độ nước, dinh dưỡng dễ dàng hơn và thực tế người ta coi phân bón là đòn bẩy tăng năng suất cây trồng. Tuy nhiên, bón phân nhiều chưa hẳn đã tốt, nồng độ hóa học cao có thể gây hại đối với cây trồng đồng thời ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khỏe con người.
Cây trồng cũng như các sinh vật khác, cơ thể có những giới hạn chịu đựng nhất định, vượt qua giới hạn đó cơ thể bị hủy hoại. Bón một lượng phân lớn vượt quá nhu cầu của cây còn gây ra lãng phí, tồn dư trong đất và sản phẩm. Trong nhiều trường hợp, năng suất cây trồng cao chưa hẳn đảm bảo hiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm giảm. Phân bón thường mang lại hiệu quả kinh tế khi sử dụng hợp lý.
Trong những giới hạn xác định , năng suất cây trồng tăng khi phân bón tăng. Tiếp tục tăng lượng phân, năng suất tiếp tục tăng nhưng hiệu quả kinh tế bắt đầu giảm xuống, đến một giới hạn nào đó, cả năng suất và hiệu quả kinh tế giảm xuống đến lúc không còn hiệu quả nữa. Bón phân hợp lý là tìm ra lượng phân bón thích hợp để vừa đạt năng suất cao, vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón. Mỗi một nguyên tố dinh dưỡng có những vai trò nhất định đối với quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng.
Mặt khác, chi phí phân bón trong nông nghiệp chiếm 30% - 50%. Trong đó, mục đích của người sản xuất không chỉ nhằm đạt năng suất tối đa 5 mà còn tìm lợi nhuận cao nhất, cho nên con người phải tìm đến những biện pháp kỹ thuật bón phân cân đối hợp lý cho từng loại cây trồng khác nhau. Vì vậy, trong việc sử dụng phân hữu cơ hay bất kì loại phân nào khác ta phải sử dụng hợp lý cho từng loại cây trồng, giai đoạn sinh trưởng, loại đất, nước, vi sinh vật và mùa vụ khác nhau…. Đồng thời, bón đúng chủng loại, đúng lúc, đúng cách, đúng nồng độ, liều lượng.
Như vậy, sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng phí và bảo vệ môi trường. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong riềng 2. Nguồn gốc Dong riềng có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ và trồng ở nước ta vào đầu thế kỷ 19. Được chế biến lấy bột để làm lương thực, thực phẩn là chính (Mai Thạch Hoành và Cs, 2011) [3].
Người ta đã xác định được 7 loài dong riềng nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darlington và Janaki, 1945) đó là: - Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới. Flauca ở Tây Ấn và Mêhico. flaccida ở Nam Mỹ. edulis ở châu Mỹ nhiệt đới.
Indica ở châu Mỹ nhiệt đới.humilis ở Trung Quốc. Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới. Trong đó Nam Mỹ là trung tâm đa dạng di truyền nguồn gen dong riềng, ngoài ra dong riềng ở các nước châu Á, châu Phi, Châu Úc được sử dụng nhiều nhất. Phân loại cây dong riềng - Tên khoa học: Canna Edulis Ker - Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannacea - Bộ: Scitaminales Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n = 2X = 18 và tam bội 2n = 2X = 27.
Phân bố Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước vùng nam Mỹ, châu Phi, và một số nước nam Thái Bình Dương. Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann và Cs, 2007) [15]. Đặc điểm thực vật học cây dong riềng Thân: Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ. Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2 m đến 1,5 m có những giống có thể cao trên 2,5 m.
Thân cây thường có mầu xanh hoặc xen tím. Thân gồm những lóng kéo dài, giữa các lóng là các đốt. Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp phần củ. Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi lớp biểu bì gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương mô xếp thành những bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó libe và mạch gỗ và trong cùng là nhu mô.
Củ: Củ dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có thể đạt chiều dài 60 cm. Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh bột, thân rễ nằm trong đất; Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy, lúc mới ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần. Trên mỗi đốt của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh có thể phân chia thành các nhánh cấp 1 hay đến cấp 3. Vỏ của thân có thể có màu trắng, 7 vàng kem đến màu tía hồng.
Kích thước củ biến động khá lớn phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm bón. Giải phẫu thân rễ cho thấy phía ngoài cùng của củ là biểu bì gồm những tế bào dẹt, tiếp là nhu mô bên trong có những bó cương mô và những bó mạch dẫn libe và gỗ, tiếp là lớp tế bào nhu mô chứa ít một số hạt tinh bột, vào trong là lớp trụ bì rất rõ và trong cùng là nhu mô chứa nhiều hạt tinh bột. So với thân khí sinh, thân rễ có ít bó cương mô hơn.