Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Tống quan về cây nha đam Nha đam hay còn gọi là cây Lô hội đã được nhân loại sử dụng hàng ngàn năm trong y học dân gian với các đặc tính chữa bệnh, đặc biệt là trên da. Loại cây này là một trong những loại cây lâu đời nhất được biết đến và được con người ghi nhận sử dụng lần đầu tiên trên một tờ giấy cói của người Ai Cập từ năm 3.500 trước Công nguyên (Crosswhite và Crosswhite, 1984). Nha đam, tên bắt nguồn từ tiếng A Rap, “Alloeh” có nghĩa là “chất đắng sáng” vì chất lỏng đẳng được tìm thấy trong lá và Vera có nghĩa là “thật” trong tiếng Latinh (Gage 1996; Surjushe và ctv 2008).
Nha đam được Carl Linnaeus mô tả lần đầu tiên vào năm 1753 với tên gọi Aloe perfoliata var. vera và được Nicolaas Laurens Burman mô tả lại vào năm 1768 là Aloe vera. Philip Miller mô tả với tên gọi Aloe barbadensis. Tên Aloe vera được chính thức công nhận bởi Quy ước quốc tế về danh xưng thực vật va Aloe barbadensis được xem là một tên đồng nghĩa.
Cho đến nay, có rất nhiều tài liệu giải thích nguồn gốc phát sinh cây nha đam nhưng vẫn chưa xác định được nguồn gốc chính xác. Hầu hết các nhà thực vật học đã đồng ý rằng cây nha đam có nguồn gốc ở vùng khí hậu nóng và khô của châu Phi. Do khả năng thích nghi của cây và nhu cầu con người mà ngảy nay loài cây này có thể được tìm thấy ở nhiều vùng khí hậu nóng ấm trên thế giới. Nha đam có nhiều tên khoa học khác nhau: Aloe barbadensis Mill., Aloe indica Royle, Aloe perfoliata L.
vera va Aloe vulgaris Lam. Aloe vera được đưa đến châu Mỹ sau cuộc thám hiểm của Columbus va Vespucci. Với khí hậu nóng và ẩm ở vùng Trung Mỹ cũng như vùng Caribbean rat thích hợp cho cây phát triển. Sau năm 1950, nha đam bắt đầu phát hiện ở các vùng trung tâm và nam Hoa Kỳ như Texas, Arizona, Florida và có xu hướng lan rộng đến Mexico và toàn Nam Mỹ.
Trong những năm gần đây, khi phát hiện ra những dược tính quý giá của nha đam thì diện tích trồng càng phát triển tại Hoa Kỳ. Trên thế giới, nha đam được tìm thấy nhiều ở Mexico, các quốc gia ở Đông A, An Độ, Nam Mỹ, Trung Mỹ, vùng Caribbean, Uc và châu Phi. Ở nước ta, đầu thế kỷ 20, người Pháp đã đem nha đam vào trồng tại Phan Rang, Phan Thiết dé lấy nhựa xuất sang châu Âu. Cho đến sau chiến tranh thế giới lần thứ hai thì không xuất được nữa nên nha đam trở thành cây hoang daitai các tỉnh Nam Trung Bộ như Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, ở các vùng đất cát ven biển (Chu Thị Thơm và ctv, 2006; Ivan A.
Khoảng 10 năm trở lại đây thì phong trào trồng nha đam được khôi phục và phát triển. Ngoài ra diện tích nha đam còn được mở rộng ra các vùng ở Đông Nam Bộ như các quận, huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương. Điều kiện thé nhưỡng thích hợp cho nha đam là vùng đất cát khô hạn ven biển các tỉnh Nam Trung Bộ, cũng có thể mở rộng trồng trên đất cát và đất đồi núi trọc vùng thấp doc ven biển các tỉnh Bắc Trung Bộ trở vào. Dat trồng có độ pH từ 5 — 7,5, thành phan cơ giới nhẹ đến trung bình nhưng phải thoát nước tốt, không bị ngập úng (Chu Thị Thơm và ctv, 2006).
Nha đam có thê trồng bang hạt, nhưng dé dé trồng và có hiệu quả nhất là sử dung giống sinh đưỡng. Cây 1 năm tuổi trở lên sẽ mọc ra nhiều chồi nhánh từ gốc, trung bình mỗi cây có 3 — 4 chỗồi nhánh, dùng dao cắt những chéi nay ở phan sát với thân cây me dé làm giống trồng. Nha đam được trồng chủ yếu vào đầu mùa mưa khi đất đã đủ âm. Mật độ trồng khoảng 6.000 cây/ha, khoảng cách trồng 1,5 x 1,0 m hoặc 1 x 1m.
Bon lon cho cây 1,5 — 2 kg phân chuồng hoai cho 1 hồ trồng, có thé trộn thêm 1 — 2 % đạm uré với phân chuồng dé bón lót. Không nên bón quá nhiều phân hóa học, tuy làm cây xanh tốt hơn nhưng chất lượng sản phâm kém. Mỗi năm chăm sóc tong thé 1 — 2 lần, chủ yếu vun xới đất xung quanh gốc (Chu Thị Thơm va ctv, 2006). Tình hình sản xuất và tiêu thụ nha đam trong nước Ở Việt Nam, nha đam được trồng Tải rac 0 khap nơi, nhiều nhất là các tinh phía Nam va ven biển miền Nam Trung Bộ, như NinhThuan (Phan Rang), Bình Thuận (Phan Ri), Bình Dương và Long An.
Ở miền Bắc cây chủ yếu trồng dé làm cảnh. Nha đam là loại cây có khả năng chịu hạn tốt thích ứng với điều kiện khô hạn do khả năng giữ nước của lá. Nha đam sinh trưởng và phát triển tốt trên đất pha cát dễ thoát nước, có thé trồng được quanh năm nhưng tốt nhất là vào mùa xuân và mùa thu, khả năng thích nghi của cây lô hội rất tốt (Dương Công Kiên, 2002). Nha đam bắt đầu được trồng ở tỉnh Ninh Thuận từ năm 2002, là loại cây trồng chịu hạn tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu của tỉnh Ninh Thuận, rất có hiệu quả về kinh tế, là một trong những cây trồng chủ lực đem lại nguồn thu chính cho nhiều hộ gia đình.
Do đó, từ năm 2019, nha đam trở thành một trong 12 sản phâm đặc thù của Ninh Thuận, được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bao hộ Nhãn hiệu chứng nhận. Theo báo cáo thống kê của ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Thuận, diện tích trồng và sản lượng nha đam có xu hướng tăng lên trong những năm qua. Năm 2017, toàn tỉnh có khoảng 333 ha, sản lượng đạt 46.000 tấn lá/năm thì đến năm 2020, diện tích toàn tỉnh ước đạt trên 470 ha, sản lượng toàn tinh gần 72. Sản phẩm nha đam Ninh Thuận được tiêu thụ rộng khắp ở các tỉnh, thành trong nước.
Từ năm 2016, sản phẩm này được xuất khâu sang một số quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, I-rac, Trung Quốc, Cam-pu-chia, Hồng Kông, Nga, Mỹ (Niên giám thống kê tinh Ninh Thuận, 2020). Theo Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm san va Thuỷ sản tỉnh Ninh Thuận, hiện nay, ở Việt Nam, công ty Cổ phần thực phâm Cánh Đồng Việt sau 8 năm hoạt động, hiện là đơn vị chế biến sản phẩm nha đam có công suất lớn nhất tại Việt Nam. Thị trường xuất khẩu của công ty lên đến 20 quốc gia hàng đầu trên thế giới như: Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Mỹ, các nước Trung Đông; và lộ trình 03 năm tới trở thành Công ty sản xuất các sản pham từ nha đam số 1 tại khu vực Đông Nam A. Công ty hiện có diện tích gần 2 ha trong đó có 2 phân xưởng sản xuất chính, 03 phân xưởng bao quản sản pham và 01 phân xưởng bao quản nguyên liệu dé sản xuất, với công suất thiết kế 15-20 tan lá nha đam tươi/giờ và hiện đang sản xuất 120 — 180 tan nguyên liệu tươi/ngày.
Công ty Cé phần thực phẩm Cánh Đồng Việt luôn áp dụng và cải tiến các hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm theo các tiêu chuẩn chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cho xuất khâu như tiêu chuẩn FSSC 22000 va ISO 22000. Tại Bình Thuận khu vực Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Tân nhiều hộ dân đã trồng thử nghiệm nha đam, tuy điện tích chưa nhiều nhưng cho kết quả khá khả quan. Phân bón và bón phân cho cây nha đam Phân bón có vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho cây trồng những dinh dưỡng cần thiết mà đất không đủ khả năng đáp ứng, đồng thời góp phần vào việc đuy trì độ phì nhiêu đất trong quá trình canh tác. Trong các nhân té tác động đến năng suất cây trồng, dinh dưỡng khoáng chiếm vị trí quan trọng.
Dinh dưỡng cho cây trồng được chia làm 3 nhóm chính: đa lượng, trung lượng và vi lượng. Do đó, dé tăng sản lượng cây trồng, việc bón N, P, K và S là cần thiết dưới dang phân bón hóa học (Ali và ctv, 2000). Tuy nhiên, việc sử dụng quá liều lượng dinh dưỡng hóa học cũng như không đúng nguồn gốc có thể ảnh hưởng xấu đến năng suất và chất lượng lá. Nhu cầu của đạm đối với cây nha đam 1.
Vai trò của đạm đối với cây nha đam Nha đam là cây cho thu hoạch lá do vậy nhu cầu đạm là rất quan trọng. Đạm là chất dinh dưỡng chính cho sự phát triển của thực vật và đóng vai trò quan trọng trong các quá trình sinh hóa thực vật liên quan đến phân tử axitamin, protein, enzyme và chất diép lục (Abbas và ctv, 2009). Trong đất, việc tăng cường nito cho sự phát triển của cây sẽ dẫn đến tăng diện tích lá và số lượng lá, đồng thời có tác động trực tiếp đến các giai đoạn sinh dưỡng và sinh sản của cây (Zhang và ctv, 2014; Ibrahim và ctv, 2011a; Acquaah, 2005; Fageria và Baligar, 2005). Dam nói chung quyết định năng suất cây trồng và khi bón thừa sẽ dẫn đến tăng tỷ lệ nước trong thân gây ngộ độc đạm dẫn đến vàng lá, thối nhũn và hiệu quả sử dụng N thấp.
Khi đã vào giai đoạn cho thu hoạch, bón phân đạm cho cây cân đối để đảm bảo dư lượng đạm trong lá. Bón ít phân đạm cây sẽ còi cọc, lá màu xanh nhạt và kích thước nhỏ, chiều dày lá mỏng. Khi thấy hiện thiếu đạm có thể bón thêm đạm hoặc phun dam qua 1a. Hai nguồn N được sử dung rộng rãi bao gồm Uré va DAP.
Các loại phan này khi bón vào đất sẽ thủy phân tạo ra NHa*. Mặc dù DAP được biết là cho năng suất kém ở đất vôi, nơi thường có phần lớn các sản phẩm phản ứng không hòa tan (Tisdale và Nelson, 1970), nhưng đất giải phóng một lượng đáng kế NH' - N trong thời gian tương đối dài hơn từ DAP so với đất được bé sung urê (Mohiuddin và ctv, 2006). Ion amoni có trong DAP giúp tăng cường sự hấp thụ P bằng cách thay đổi độ pH của đất và độ hòa tan P ở gần rễ cây (Soon và Miller, 1971). Nhiều tài liệu nghiên cứu ứng dụng đạm có thể dẫn đến sản lượng gel cao hơn, hình thành lá nhanh hơn và năng suất gel cao hơn cho mỗi lá.
Tầm quan trọng của việc bón dam đúng mức và đúng lúc cho cây nha đam là một nhân tố kỹ thuật quan trọng hạn chế lượng bón dư thừa đạm từ 6 đến 45% (Wabuyele và ctv, 2006).