CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây bắp 1.1 Nguồn gốc và phân loại thực vật Bắp có tên khoa học là (Zea mays.L) do nhà thực vật học Thuy Điển Linnacus đặt theo hệ thong tên kép Hy Lạp — Latinh, Zea-từ Hy Lap dé chỉ cày ngũ cốc và mays là từ Mahiz tên gọi cây bắp của người ban địa da đỏ. Cũng có thé mays là từ Maya - tên một bộ tộc da đỏ ở vùng Trung Mỹ - nơi xuất xử của bap. Gần đây một số tác giả coi bắp chỉ là một loại phụ của Zea mays, có tên là Zea mays mays (Iltis và Doebly, 1984). Zea thuộc chi Maydeae, họ hòa thảo (Gramineae).
Hiện cũng có những tải liệu cho bắp thuộc ho Poaceae.2 Đặc điểm thực vật học của cây bap 1.1 Rễ bắp Bắp có hệ rễ chùm tiêu biểu cho bộ rễ các cây họ hòa thảo. Bắp có ba loại rễ chính: rễ mầm, rễ đốt và rễ chân kiềng.2 Thân, lá bắp Thân, lá bắp Bắp thuộc họ hòa thảo song có thân khá chắc, có đường kính từ 2 — 4 cm tùy thuộc vào giống, điều kiện sinh thái và chăm sóc. Thân có chiều cao khoảng 1,5 —4 m. Thân chính cua cây bắp có nguồn gốc từ chồi mam (plumule) bao phủ bởi bao lá mầm (colcoptyle) nằm trong phôi của hạt bắp.
Bắp là loại cây có hoa khác tính cùng gốc. Hai cơ quan sinh sản đực (bông cờ) và cái (bắp) tuy cùng nằm trên một cây song ở những vị trí khác nhau.3 Bông cờ và bắp Bắp là loại cây có hoa khác tính cùng gốc. Hai cơ quan sinh sản đực (bông cờ) và cái (bắp) tuy cùng nằm trên một cây song ở những vị trí khác nhau.4 Hạt bắp Hạt bắp thuộc loại quả dĩnh gồm năm phần chính là vỏ hạt, lớp aloron, phôi, nội nhũ và chân hạt. Vỏ hat bao xung quanh hạt là một màng nhãn.
Lớp aloron nằm dưới vỏ hạt và bao lấy nội nhũ và phôi. Nội nhũ là phần chính của hạt chứa các tế bào dự trữ chất dinh dưỡng. Nội nhũ có 2 phần: nội nhũ bột và nội nhũ sừng. Tỉ lệ này phụ thuộc vào chủng bắp và các giống bắp khác nhau.3 Nhu cầu sinh thái của cây bắp 1.1 Nhiệt độ Cây bắp có nguồn gốc nhiệt doi, được phân bố rộng từ vĩ độ 58° Bắc đến 38° Nam, từ độ cao | m đến 3620 m so với mặt nước biến, từ khí hậu vùng xích đạo nóng, mưa nhiều đến vùng lạnh ôn đới.
Tuy nhiên qua quá trình trồng trọt, chọn lọc và thuần hóa ngày nay bắp có thê trồng trên nhiều vùng khí hậu khác nhau. Nhiệt độ ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng và phát triển của cây bắp. Cây phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ ngày từ 24 - 30°C, nhiệt độ > 38°C ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây. Hạt phan của cây bắp có thé bị chết khi nhiệt độ quá 35°C.
Ngược lại, nhiệt độ quá thấp dưới 12°C cũng ảnh hưởng xấu tới quá trình sống của cây, đặc biệt vào giai đoạn nảy mầm ra hoa (Ngô Hữu Tình, 1995).2 Nước Bắp là cây trồng cạn có bộ rễ phát triển mạnh, vì vậy nhu cầu nước đối với cây bắp là rất lớn. Một cây bắp bình thường trong một mùa sinh trưởng sản sinh ra một khối lượng chất xanh lớn do vậy cần một khối lượng nước tương đối lớn khoảng 220 lít. Nhu cầu nước của cây thay đổi tuỳ theo giai đoạn sinh trưởng va phát triển của cây. Giai đoạn từ phun râu đến chin sữa cây cần lượng nước cao nhất (Sudar va ctv, 1981).
Cây bắp đặc biệt rất sợ úng (Ngô Hữu Tình, 1995).N) (105-125 N) (126-440 N) Giai đoạn sinh trương Hình 1.1 Nhu cầu sử dụng nước của cây ngô ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau (Sudar và ctv, 1981) 1.3 Ánh sáng Chế độ ánh sáng là yêu tố quan trọng cho sự sống của thực vật. Bap là loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới thuộc nhóm cây ngày ngắn. Nghiên cứu phản ứng của cây bắp đối với độ dài ngày cho thấy cây bắp hình thành các kiểu hình thái khác nhau với độ dài ngày khác nhau.2 Giá trị dinh dưỡng của cây bắp làm thức ăn chăn nuôi gia súc Cây bắp có thê dùng làm thức ăn gia súc dưới dạng hạt hay dạng thức ăn thô xanh (thân lá).1 Thành phần dinh dưỡng trong thân, lá, lõi bắp (% khối lượng chất khô) Thành phân dinh Cây xanh không Cây già không trái L6i trái dưỡng trai Nước 77,30 13,50 10,17 Protit 1,30 4,36 2,40 Lipit 0,40 0,74 0,50 Duong, bột 1,39 39,25 54,50 Xenlulô 6,00 33,65 30,10 Chất khoáng 1,40 6,70 1,40 (Đường Hong Dat, 2004) Theo Đường Hồng Dat (2004), trong thân, lá và lõi bắp có chứa ham lượng các chất đường, bột tương đối cao nhưng hàm lượng đạm thì thấp đạt 60-70% nhu cầu đạm của một đơn vị thức ăn tiêu chuẩn (Bang 1.2 Thành phần dinh dưỡng của cây bắp tươi và cây bắp ủ chua so với cỏ voi (Nguyễn Xuân Trạch, 2008) ¬ Cỏ voi 60 ngày Chi tiêu Đơnvitính quảimùakhộy Cây bắp tươi - Cây bắp ủ chua Vật chất khô % 20,20 15,89 + 0,08 20,78+ 0,05 Protein % 1,76 1,99 + 0,01 1,78 + 0,02 Lipid % 0,51 0,22 + 0,07 0,39 + 0,014 Khoáng tong số % 1,58 0,/77+0,014 0,92 + 0,017 Xo tong s6 % 6,93 0,55 + 0,05 6,21 + 0,02 Cây bắp ủ chua có thành phần dinh dưỡng cao hơn so cây cỏ voi tươi thu hoạch 60 ngày tuôi (Nguyễn Xuân Trạch, 2008). Điều này cho thấy sử dụng cây bắp 6 ủ chua là một lợi thé vì chủ động được nguồn thức ăn xanh cho bò đặc biệt trong điều kiện bat lợi hoặc thiếu thức ăn (Bang 1.4 Tình hình sản xuất cây bắp phục vụ thức ăn chăn nuôi Đối với bắp, thu hoạch khi cây và bắp còn xanh vảo giai đoạn chín sáp sẽ có sự khác biệt rất lớn so với bắp thu hoạch hạt khô (khối lượng bắp sinh khối thường cao hơngấp 15 - 20 lần so với khối lượng hạt khô), đã và đang trở thành cây làm thức ăn ủ chua dùng trong chăn nuôi trong 2 thập ky gan đây trên thế giới.
Tổng diện tích trồng bắp sinh khối trên thế giới ít hơn bắp lấy hạt rất nhiều. Tổng diện tích trồng bắp sinh khối ở Mỹ (2017) mới chỉ chiếm 7% tổng điện tích bắp toàn quốc (USDA, 2018). Ở Mỹ hầu hết các vùng đều trồng bắp thu sinh khối làm thức ăn cho gia súc với diện tích và sản lượng rất lớn. Đặc biệt vùng phía Đông miền Trung với diện tích 575.000 ha cho sản lượng đến 23,718 triệu tan trong năm 2012 và đến năm 2013 về năng suất và sản lượng đều tăng hơn so với năm 2012 với diện tích 662.500 ha và sản lượng 29,812 triệu tan.
Vùng trồng bắp thu sinh khối có diện tích nhỏ nhất (vùng Tây Nam diện tích 92.500 hanăm 2012) cũng đã hơn diện tích cả nước New Zealand (diện tích 24. Bên cạnh đó các nước như Uc, New Zealand, An Độ cũng dang mở rộng diện tích trồng bắp sinh khối dùng làm thức ăn chăn nuôi. Việt Nam có nghề chăn nuôi khá phát triển và số lượng trang trại bò cũng ngày càng tăng cao. Tuy nhiên việc sử dụng nguồn thức ăn từ thân cây bắp tươi cũng như ủ chua ít có số liệu thống kê cụ thé.
Nhiều hộ nông dân tự phát đã trồng cây bắp làm thức ăn cho gia súc. Theo Nguyễn Xuân Trạch va ctv (2008), vùng sinh thái có ảnh hưởng đến tỷ lệ sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn gia súc, trong số 497 hộ chăn nuôi trâu bò ở các tỉnh phía Bắc thì số hộ sử dụng rơm có tỷ lệ cao nhất ở vùng Đông Bắc 98,53% và số hộ sử dụng thân cây bắp có tỷ lệ cao nhất ở vùng Tây Bắc 72,78%. Năm 2010, trong tổng diện tích khoảng 1000 ha bắp của huyện Mộc Chau, chỉ có 10% diện tích trồng bắp lấy thân, thì vụ xuân năm 2012 diện tích này đã tăng lên đến 70%. Trong sô các giông bắp được người sản xuât châp nhận dùng đê sản xuât bắp sinh khối, giống bắp lai đơn LCH9 của Viện Nghiên cứu Bắp công nhận chính thức từnăm 2008 (Lê Quý Kha và Lê Quý Tường, 2017), được mở rộng diện tích tổng số hơn 10 ngàn hecta tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ từ những năm 2010 đến 2017 (Bảng 1.3 Diện tích bắp sinh khối LCH9 tại các tỉnh từ 2010 đến 2017 Diéntich Nang suat ; Nam (ha) sinh khôi Dia điêm (tân/ha) 50 45 - 50 Mộc Châu - Sơn La 2011 105 46 - 49 Mộc Châu - Sơn La 2012 500 5U - 55 Mộc Châu - Sơn La 2013 1007 45 - 50 Mộc Châu - Sơn La 2014 1550 45 - 55 Sơn La, Đồng Nai, TP.Hồ Chí Minh 2015 2000 50 - 60 Sơn La, Đồng Nai, Lâm Đồng 2016 — 2500 50 - 60 Sơn La, Đồng Nai, Lâm Đồng 2017 3000 45-60 Nam Định, Thái Bình, Quảng Bình, Đồng Nai, Lâm Đông Tổng 10.5 Khái niệm, vai trò của GAs đến cây trồng và ảnh hưởng của nồng độ GA: đến sinh trưởng và năng suất đến cây bắp và cây trồng 1.1 Khái niệm, vai trò của GA; đên với cay trông Axit gibberellic (còn gọi là Gibberellin A3, GA, GAs) là một axit cacboxylic đồng thời là hoóc môn tìm thấy trong thực vật.
Gibberellin thường được sử dụng nhất là GA: và những dạng hoạt động GAi. Công thức hóa học tông quát của nó là CisH220¢. Khi làm tinh khiết, nó là chất bột kết tinh màu trắng hay vàng nhạt, hòa tan trong êtanol và hơi hòa tan trong nước. OH HO Hình 1.2 Công thức cấu tao cua GA; Axit gibberellic là một gibberellin đơn, đây mạnh sự phát triển và kéo dai các tế bào ra.
Nó tác động tới sự phân hủy của thực vật và hỗ trợ thực vật lớn nhanh vì có tác dụng kích thích sự phân chia tăng trưởng tế bào nếu sử dụng với nồng độ nhỏ, nhưng cuối cùng thì thực vật ngày càng bộc lộ rõ sự phải chịu đựng nó (Prasad và Kumar, 2011). Harkess và Lyons (1994) cho rằng hiệu quả sinh lý rõ rệt nhất của Gibberellin là kích thích mạnh mẽ sự sinh trưởng kéo dài của thân, sự vươn dai cua long. Hiệu quả nay có được là do Gibberellin kích thích mạnh lên pha giãn của tế bào theo chiều dọc. Vì vậy khi xử lý Gibberellin cho cây đã làm tăng nhanh sự sinh trưởng dinh dưỡng nên làm tăng sinh khối của cây.
Dưới tác động của Gibberellin, thân cây tăng chiều cao rất mạnh (đậu xanh, đậu tương thành dây leo, cây đay cao gấp 2-3 lần).