Đặt vấn đề Ngày nay, xã hội càng phát triển, chất lượng cuộc sống con người ngày càng được nâng cao, sức khỏe dần trở thành vấn đề rất được quan tâm, con người đã ý thức được việc phòng bệnh hơn chữa bệnh và nhận thấy việc sử dụng các dược liệu quý có nguồn gốc tự nhiên bồ sung vào chế độ dinh dưỡng có những tác động rất hiệu quả trong việc hỗ trợ điều trị và phòng ngừa một số bệnh. Đông trùng hạ thảo là một trong số các được liệu quý đó và đã được sử dụng lâu đời trong lịch sử đông y, có giá trị kinh tế rất cao nên bị khai thác quá mức dẫn đến khang hiếm ngoài tự nhiên. Vì vậy việc phát triển nuôi trồng nắm đông trùng hạ thảo trong điều kiện nhân tạo nhằm chủ động về công nghệ và tăng quy mô sản xuất, nâng cao năng xuất, chất lượng góp phần làm giảm giá thành sản phâm dé nhiều tầng lớp người dùng có thể tiếp cận đến sản phẩm đông trùng hạ thảo cho việc chăm sóc sức khỏe là cần thiết. Đông trùng hạ thảo thiên nhiên có thể có hàm lượng khoáng chất thiên nhiên và dưỡng chất hữu cơ cao hơn trùng thảo được nuôi cấy.
Tuy nhiên, việc nuôi đông trùng hạ thảo trong phòng thí nghiệm sẽ giữ được lượng lớn hoạt chất có lợi giúp bảo vệ tim mạch, điều hòa ồn định huyết áp, hỗ trợ điều trị ung thư, ngăn chặn sự hình thành và phát triển các tế bào khối. Hiện nay, có 2 loài nắm đông trùng hạ thảo được nghiên cứu chủ yếu là Cordyceps militaris và Cordyceps sinensis. Đã có rat nhiều công trình nghiên cứu về hoạt chat của 2 chủng nam này, đồng thời có những nghiên cứu về nuôi nhân tạo trùng thảo cũng như trên nhộng sâu, nhộng tằm hoặc trên gạo lứt nhằm tạo ra đông trùng hạ thảo. Ngoài ra, đông trùng hạ thảo nuôi cấy còn có ưu điểm về giá cả, thay vì phải bỏ số tiền lớn dé tìm đông trùng hạ thảo tự nhiên, với số tiền nhỏ hơn, chỉ tiêu hợp lý hơn chúng ta hoàn toàn có thé sử dụng các sản phẩm từ đông trùng hạ thảo nuôi trồng dé bồi bổ sức khỏe, tăng sức dé kháng.
Dé tạo được đông trùng hạ thảo nhân tạo thì sẽ cần những nguyên liệu phù hợp và gạo lứt hoặc nhộng tam là một trong những nguyên liệu đó. Nhộng tằm, giá thé vừa doi dao chất dinh dưỡng vừa là nơi kí sinh của nắm tương tự như đông trùng hạ thảo tự nhiên nhất và gạo lứt cũng là nơi chứa thành phần dinh dưỡng không kém. Ở một số 1 nghiên cứu cho thấy sử dụng hỗn hợp gạo với nhộng côn trùng cũng cho thấy kết quả tốt. Nhưng với sự đa dạng của các loại bột nhộng tằm trên thị trường thì van chưa có nghiên cứu nào dé chọn ra loại bột nhộng tằm tốt nhất.
Vì vậy, nhằm chọn ra nguồn bột nhộng tằm nào kết hợp với giá thé gạo lứt là phù hợp nhất dé sản xuất một cách tối ưu đông trùng hạ thảo, dé tài “Ảnh hưởng của các loại nhộng tằm lên chất lượng nam Cordyceps militaris nuôi trồng trên giá thé gạo lứt” được thực hiện. Mục tiêu đề tài Mục tiêu: Xác định được nguồn nhộng tằm nào là phù hợp nhất trong nghiên cứu này dé bố sung vào giá thé gạo litt dé tạo ra sản phẩm đông trùng hạ thảo trong môi trường nhân tạo 1. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Đánh giá chất lượng đầu vào của 4 nguồn nhộng tằm: nhộng tằm dâu xay khô, nhộng tằm sắn tươi, nhộng tằm dâu tươi, nhộng tằm dâu sau ươm cấp đông. Nội dung 2: Đánh giá đông trùng hạ thảo sau khi được nuôi trồng trên 4 nguồn bột nhộng có trong giá thé gạo litt về các chỉ tiêu như: đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng phát triển, hàm lượng dược chất.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về đông trùng ha thảo 2. Tên gọi Đông trùng hạ thảo (Chinese caterpillar fungus), còn gọi là trùng thảo, hạ thảo đông trùng hay đông trùng thảo, là một loại đông được quý có bản chất là dạng ký sinh của loài nam Cordyceps sinensis (thuộc nhóm Ascomycetes) trên cơ thé sâu Hepialus fabricius. Phần được tính của đông tring hạ thảo đã được chứng minh là do các chất chiết xuất từ nam Cordyceps sinensis.
Tên gọi "đông trùng hạ thảo" là xuất phát từ quan sát thực tế khi thấy vào mùa hè nam Cordyceps sinensis mọc chồi từ đầu con sâu nhô lên khỏi mặt đất. Vào mùa đông thì nhìn cặp cá thể này giống con sâu (côn trùng), còn đến mùa hè thì chúng trông giống một loài thực vật (thảo mộc) hơn. Riêng tên “Đông trùng hạ thảo” được ghi chép là vị thuốc xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn “Bản thảo cương mục” vào đời nhà Minh của danh y Lý Thời Trân (năm 1575), Đông Trùng Hạ Thảo được xếp ngang với nhân sâm về công năng chữa bệnh - thuộc vào loại toàn diện nhất. Nguồn gốc hình thành Đông trùng hạ thảo là hiện tượng loài sâu thuộc chi Hepialus trong tổng Ho Lepidoptera (Cánh bướm) bị kí sinh bởi một loài nam túi có tên khoa học là Cordyceps sinensis (Berk.) thuộc tong Ho Ascomycetes (Nang Khuan).
Thường gap nhất là sâu non của loài Hepialus ƒabricius hoặc Hepialus armoricanus. Ngoài ra còn 40 loài khác thuộc chi Hepialus cũng có thé bị Cordyceps sinensis ky sinh. Các loài nam nay phân bồ rộng ở châu Á và châu Úc với trung tâm đa dạng là vùng Đông Á, đó là các vùng cao nguyên cao hơn mặt biến từ 4000 đến 5000 m như: Tây Tạng, Tứ Xuyên, Thanh Hi, Cam Tac, Van Nam. Tông quan Đông trùng hạ thảo Cordyceps militaris 2.
Mô tả Cordyceps militaris Phân loại khoa học Ngành: Ascomycota Phan nganh: Ascomycotina Lop: Sordariomycetes Bo: Hypocreales Hinh 2. Cordyceps militaris Ho: Clavicipataceae (Nguôn: Cordyceps militaris NBRC 9787) Chi: Cordyceps Loài: Cordyceps militaris Nam C. militaris là loài nam ký sinh trên bướm và sâu bướm, có màu cam, chiều dài 8 - 10 cm. Đầu quả thé nắm có các đốm màu cam sáng.
Qua thé nam nhô lên từ xác ấu trùng hoặc nhộng, rỗng ở giữa. Các nang bào tử dai từ 300 - 510 uum, bề rộng khoảng 4 um. Các bao tử nang hình sợi, không mau và phân đoạn, kích thước 3,5 - 6,0 x 1,0 - 1,5 um. Các bao tử nang nảy chồi tạo các bao tử thứ cấp.
Nam nay có phân bố rộng, ở Bắc Mỹ, châu Âu và chau A (Paul và ctv, 2008). Nắm Cordyceps này có màu sắc khuẩn lạc dao động từ trắng, vàng, cam nhạt đến cam tùy theo thành phần dinh dưỡng. Các quan sát cho thay môi trường có bổ sung pepton và cao nắm men cho khuẩn lạc có màu sắc đậm hơn (Shrestha và ctv, 2006). Vật chủ của các loài thuộc chi Cordyceps loài C.
militaris được nghiên cứu nhiều nhất trong chi Cordyceps và cũng là loài có số lượng ky chủ đa dạng nhất. Khả năng thích nghỉ của loài này cao nên chúng được tìm thấy ở nhiều khu hệ sinh thái trên trái đất. Ký chủ phổ biến của loài C. militaris trong tự nhiên bao gồm ấu trùng và nhộng của các loài bướm, côn trùng cánh cứng (Coleoptera), cánh màng (Hymenoptera) và hai cánh (Diptera) như: Ips sexdentatus, Lachnosterna quercina, Tenebrio molitor (thuộc cánh cứng), Cimbex similis (thuộc cánh mang) va Tipula paludosa (thuộc họ hai cánh).
4 Trong tự nhiên có nhiều loài Cordyceps có hình thái tương tự hoặc gần giống loài C. militaris, bao gom C. washingtonensis và một sô loài khác. Thành phan hóa học Cordyceps militaris 2.
Adenosine và Cordycepin Adenosine là một nucleoside purine tự nhiên và hình thành từ sự phân hủy của adenosine triphosphate (ATP) - nguồn năng lượng chính của tế bào. ATP bị phân hủy qua vai phan ứng sẽ tạo thành Adenosine với sự tham gia xúc tac của enzyme 5’nucleotidase (Enzo va ctv, 2001). Adenosine là một hợp chất hóa học gồm một phan tử adenine và một phần tử ribose, adenosin monophosphate (AMP), adenosine diphosphate (ADP), adenosine triphosphat (ATP) là nguồn sinh năng lực cho các bap thịt khi vận động do các phản ứng sinh hoc. Nucleotide vòng như cyclic adenosine monophosphate (C - AMP) đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền tín hiệu và điều tiết hormone (Martin, 2010).
Adenosine có vai trò quan trọng trong chuyền hóa năng lượng trong cơ thé. Chat này có vai trò tuần hoàn ngoại biên và tim mach, cải thiện năng lực cho cơ bắp giảm sinh trưởng của tế bao thoái hóa, tăng lượng oxy trong máu (Dai Duy Ban và Lưu Tham Muu, 2009). Cordycepin có công thức CjoHi3NsO3 và phân tử lượng 251, điểm nóng chảy tại 228 - 231 °C, độ hap thu cực dai tai bước sóng 259 nm. Có thể hòa tan trong dung dịch đệm muối, methanol hay ethanol, nhưng không hòa tan trong benzen, ether hay chloroform, do vậy nhiều nghiên cứu đã sử dụng dung dịch muối khử trùng và đệm phosphat lam dung môi (Tuli, 2013).
Năm 1950, cordycepin đã được phân lập từ C. Cordycepin cũng đã được nghiên cứu và ly trích từ quả thé và sợi nam C. Cordycepin là một dạng analoge (tương tự adenosine), phân tử này khác với adenosine là không có oxy ở vị tri 3’ trên phân tử ribose. Vi cordycepin có cau trúc tương tự như adenosine nên RNA polymerase không thể phân biệt, khi tham gia tổng hợp phân tử RNA, cordycepin ngăn chặn quá trình kéo dai thêm RNA và tạo các phân tử RNA kết thúc sớm.
Do đó cordycepin được dùng làm chất ức chế quá trình phiên mã ngược, trong điêu trị các bệnh nhiễm trùng virus ké ca HIV và viêm gan, cũng như ung 5 thư (Itoh và ctv, 1994). Cordycepin được xem là có hiệu quả kháng ung thư. Mặt khác, hợp chất cordycepin là một hợp chất quan trọng, quyết định phẩm chat, chất lượng của nắm DTHT (Masuda và ctv, 2005). militaris, nồng độ adenosine thấp hơn nồng độ cordycepin.
Nồng độ adenosine trong qua thé là 0,18% và 0,06% trong sinh khối nam. Nồng độ cordycepin là 0,97% trong quả thé và 0,36% sinh khối nam. Nồng độ adenosine và cordycepin trong qua thé cao hơn khoảng 3 lần so với trong sinh khối (Hur, 2008). NHạ tắc DƯ “ đề, wo CO ro QL OH OH OH Hình 2.
Cấu trúc hóa học của Adenosine (trai) va Cordycepin (phải) 2. Các thành phần hóa học khác Acid amin: Trong qua thé nam C. militaris có chứa lượng acid amin tổng số cao hơn trong sinh khối nam (69,32 mg/g trong quả thé và 14,03 mg/g trong sinh khối nam) (Hur, 2008). Khối lượng acid amin mỗi loại trong quả thé và sinh khối nam cũng có sự chênh lệch, dao động từ 1,15 - 15,06 mg/g và 0,36 - 2,99 mg/g.
Thành phần acid amin của mỗi loại trong qua thé bao gồm: lysine (15,06 mg/g), glutamic acid (8,79 mg/g), prolin (6,68 mg/g), threonine (5,99 mg/g), arginine (5,29 mg/g) va alanine (5,18 mg/g). Acid béo: Quả thé nam C.