MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây ngũ gia bì có những tên gọi khác sâm non, cây chân chim có tên khoa học là Scheffera octophylla. Cây ngũ gia bì có lá kép hình chân vịt, mọc so le, có 6 đến 8 lá chét hình trứng. Lá cây ngũ gia bì xanh có màu xanh đậm.
Nếu nhìn kĩ chúng ta sẽ thấy nó giống như chân chim. Lá nếu vò ra thì có mùi thơm rất nhẹ, tạo cảm giác rất dễ chịu Ở nhiều gia đình ở vùng quê, hoặc có diện tích rộng thường trồng cây ngũ gia bì xung quanh tường nhà, hàng rào vừa làm cây cảnh, vừa để xua đuổi muỗi không vào nhà. Cây ngũ gia bì còn có khả năng hút bụi, các vi khuẩn, chất gây ô nhiễm ở trong nhà, cơ quan. Cây ngũ gia bì thích hợp với khí hậu nóng ẩm, chịu được hạn và có khả năng thích ứng với môi trường sống cao.
Cây ngũ gia bì thích hợp làm cây xanh văn phòng, gia đình, tạo không gian cảnh quan thoải mái, dễ chịu, minh mẫn cho mọi người xung quanh. Ngoài ra rễ cây có còn tác dụng chữa bệnh, lá làm nguyên liệu cắm hoa. Cây ngũ gia bì là một trong những cây phong thủy vừa có tác dụng làm cảnh vừa có tác dụng làm thuốc nên được rất nhiều người chọn để trang trí nhà cửa, cảnh quan. Để phục vụ cho trồng cây, có thể tạo cây con bằng hạt hoặc giâm hom.
Nhân giống bằng hom là phương thức nhân giống được dùng rộng rãi cho một số loài cây như cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả. Là phương pháp có hệ số nhân giống cao, phù hợp với quy mô lớn và sản phẩm cuối cùng cho một số lượng cây giống đồng đều về mặt chất lượng di truyền. Giâm hom là công việc h 2 được áp dụng và đã thu được những kết quả, có thể đưa vào sản xuất đại trà cho một số đối tượng cây trồng chính phục vụ cho nhân giống. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom, nhưng phụ thuộc bởi ba yếu tố chính là: khả năng ra rễ của hom giâm (cá thể, giai đoạn và vị trí của hom), môi trường giâm hom và các chất kích thích ra rễ.
Nhưng việc sử dụng loại thuốc nào, nồng độ bao nhiêu thích hợp với khả năng ra rễ của cây Ngũ gia bì là một vấn đề cần được nghiên cứu. Xuất phát từ thực tế trên, tôi thực hiện đề tài : “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng NAA đến khả năng hình thành cây hom Ngũ gia bì (Schefflera Octophylla (Lour.) Harms) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” 1. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được nồng độ chất kích thích NAA phù hợp cho nhân giống cây Ngũ gia bì bằng phương pháp giâm hom. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu trong học tập. Giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tiễn, tạo điều kiện cho sinh viên nâng cao được kỹ năng nghề nghiệp. Giúp cho sinh viên biết cách triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học, phương pháp đo đếm, thu thập, xử lý số liêu, viết và trình bày một báo cáo khoa học. Thông qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên có điều kiện học hỏi những kiến thức thực tiễn nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân để thực hiện tốt công tác sau này.
Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan. Ý nghĩa trong thực tiễn Có được kỹ năng nhân giống cây bằng phương pháp giâm hom. Áp dụng kết quả nghiên cứu trong nhân giống cây Ngũ gia bì bằng phương pháp giâm hom. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống để cung cấp hạt hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho các bước cải thiện giống theo các phương thức sinh sản thích hợp. Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom là phương pháp nhân giống đem lại hiệu quả cao và đã được áp dụng phổ biến cả trong và ngoài nước trong suốt thời gian qua. Phương thức này dựa trên cơ sở phân bào nguyên nhiễm không có sự kết hợp vật chất di truyền giao hợp giữa giao tử cái và giao tử đực nên cây mới tạo ra mang đầy đủ vật chất di truyền của cây mẹ. Nhân giống bằng hom là phương pháp sử dụng đoạn thân, cành, lá để tạo ra 1 cây mới mang đặc tính di truyền của cây mẹ.
Đây là phương pháp tương đối dễ thực hiện, hệ số nhân giống cao nên được áp dụng phổ biến trong công tác nhân giống cây trồng. Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom đã và đang đưa vào sử dụng ngày một nhiều và đóng một vai trò không thể thiếu được trong công tác chọn giống, bảo tồn tài nguyên di truyền ở trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng. Chính vì thế việc nghiên cứu nhân giống bằng hom là việc làm thiết thực nhằm góp phần đẩy nhanh sản xuất cây con bằng hom phục vụ cho việc trồng rừng. Bảo tồn nguồn gen cây rừng là bảo tồn các đa dạng đi truyền cần thiết cho các loài cây rừng nhằm phục vụ công tác cải thiện, duy trì giống trước mắt hoặc lâu dài, tại chỗ hoặc nơi khác và nhân giống cây rừng nhanh với số lượng lớn phục vụ công tác trồng rừng.
Một trong nhiều phương pháp đang được sử dụng nhiều hiện nay là phương pháp giâm hom. h 5 Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính. Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản trong đó có sự kết hợp giao tử đực và giao tử cái để tạo thành hợp tử lưỡng bội. Hợp tử phát triển thành cá thể mới.
Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không qua thụ tinh, nó bao gồm sự kết hợp của vô tính và các dạng sinh sản dinh dưỡng. Theo nghĩa rộng thì nhân giống sinh dưỡng bao gồm nhân giống bằng hom, chiết cành, ghép cây, nuôi cấy mô phân sinh. Nhân giống bằng hom là phương pháp có hệ số nhân giống lơn tương đối rẻ tiền nên dược dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả. Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinh sản hữu hình.
Sinh sản hữu hình là hình thức sin hsản mà trong đó có sự kết hợp giữa hai giao tử đực và cái đơn bội để trở thành hợp tử lưỡng bội. Hợp tử phát triển hành cá thể mới. Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không qua thụ tinh, nó bao gồm sự kết hợp vô tính và các dạng khác của sinh sản sinh dưỡng. Nhân giống dinh dưỡng là hình thức nhân giống dựa trên cơ sở hình thành của sinh sản sinh dưỡng.
Cây phân sinh được tạo ra từ một bộ phận cây mẹ bằng hàng loạt quá trình nguyên nhiễm nên có khả năng phát triển thành cây mới có đặc điểm di truyền giống cây mẹ. Nhân giống băng hom là phương pháp dùng một phần lá, một đoạn thân, một đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới gọi là cây hom, cây hom có đặc tính di truyền như của cây mẹ. Vấn đề quyết định trong giâm hom là làm cho hom ra rễ, trong công thức thí nghiệm hom ra rễ càng nhiều thí nghiệm càng thành công. Cơ sở tế bào học Dựa vào đơn vị cấu trúc cơ bản của cây rừng, trong đó tế bào là cơ sở quan trọng mang đầy đủ thông tin di truyền cho các quá trình phát triển của thực vật.
h 6 Khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của loài cây, bộ phận của cây lấy làm giống cũng như loài tế bào đã phân hóa của cây. Cơ sở di truyền học Dựa vào các đặc tính di truyền của cây mẹ truyền cho đời con nhờ quá trình nguyên nhiễm hay nguyên phân, mà ta tiến hành dùng các cành, thân để giâm hom. Kết quả nghiên cứu của một số tác giả đều đi đến một kết luận chung nhất là: các loài cây khác nhau thì đặc điểm ra rễ khác nhau. Các tác giả này đã dựa vào khả năng ra rễ để chia làm 3 nhóm.
Nhóm dễ ra rễ: Bao gồm các loại cây không sử dụng chất kích thích vẫn có tỷ lệ ra rễ cao, nhóm này gồm 29 loài như: Đa, Sung, Tre, Nứa… Nhóm khó ra rễ: Bao gồm các loài hầu như không ra rễ hoặc phải dùng chất kích thích ra rễ mà vẫn cho tỉ lệ ra rễ thấp, nhóm này gồm 26 loài như các chi: Malus sp, Prunus sp. Ở nước ta, Bách tán cũng thuộc loài rất khó ra rễ. Nhóm ra rễ trung bình: Bao gồm các loài chỉ sử dụng chất kích thích với nồng độ thấp cũng có thể ra rễ với nồng độ cao, nhóm này gồm 65 loài, trong đó có các chi Eucaluptus sp, Taus sp, Quercus sp … Tuy vậy, sự phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối, vì thế theo khả năng giâm hom có thể chia thực vật thành 2 nhóm chính là: Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom, cành: Gồm nhiều loại cây thuộc họ Dâu tằm, một số thuộc họ Liễu, với những loài cây này, khi giâm hom không cần xử lý thuốc hom vẫn ra rễ bình thường. Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt: Khả năng ra rễ của hom giâm bị hạn chế bởi các mức độ khác nhau.
Những loài cây dễ ra rễ như Thông đỏ, 40-50 tuổi vẫn ra rễ 80-90%. Cơ sở phát sinh phát triển cá thể h 7 Quá trình sinh trưởng và phát triển của cá thể đều do bộ gen và môi trường xung quanh quết định, môi trường ở đây là môi trường bên ngoài và môi trường bên trong ảnh hưởng đến tế bào chất. Quá trình phát triển của cá thể được thể hiện qua các giai đoạn: Non trẻ, chuyển tiếp, thành thục, khả năng ra chồi rễ của các bộ phận là rất khác nhau. Trong sinh sản sinh dưỡng (giâm hom) cũng hay gặp hiện tượng Topophysis (hiện tượng bảo lưu cục bộ) đó là hiện tượng bảo lưu duy trì sự phát triển hình thái và đặc điểm sinh học của bộ phận được lấy làm vật liệu giống trong nhân giống sinh dưỡng, những cây con được tạo ra từ chồi ngọn sẽ mọc thẳng (hiện tượng này thường gặp ở chi Bách Tán).