CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NANO TINH THỂ BÁN DẪN KHÔNG PHA TẠP VÀ PHA TẠP KIM LOẠI CHUYỂN TIẾP 1. Giới thiệu về các nano tinh thể bán dẫn Các nano tinh thể (NC) bán dẫn là hệ vật liệu có kích thước cỡ nano mét (chứa từ vài trăm tới vài nghìn nguyên tử). Các NC có kích thước nằm giữa phân tử và tinh thể khối, và có các tính chất vật lý đặc trưng theo kích thước nm của chúng. Do có kích thước nm, các NC có các tính chất vừa giống phân tử, vừa giống vật liệu khối [8].
Có thể sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau để hiểu về các trạng thái năng lượng và các tính chất của các NC. Vật liệu bán dẫn kích thước nm có các tính chất vật lý, hóa học rất thú vị mà ở dạng tinh thể khối kích thước lớn không thể có được, độ rộng vùng cấm hiệu dụng được mở rộng và thay đổi theo kích thước của nano tinh thể, tương ứng với các vùng ánh sáng từ tử ngoại đến vùng hồng ngoại, phổ phát xạ hẹp và đối xứng, dải phổ hấp thụ rộng, hiệu suất lượng tử cao và bền quang [9]. Việc nghiên cứu chế tạo được các tinh thể bán dẫn có kích thước nm làm cho lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và triển khai ứng dụng được phát triển mạnh mẽ, do khả năng dễ chế tạo và có thể chế tạo được với lượng lớn để sử dụng được trong thực tế [10]. Mật độ trạng thái với các hệ: tinh thể bán dẫn khối (a) giếng lượng tử (b), dây lượng tử (c) và chấm lượng tử (d) [10].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Trong vật liệu bán dẫn khối, các điện tử trong vùng dẫn và các lỗ trống trong vùng hoá trị chuyển động tự do trong tinh thể. Do lưỡng tính sóng-hạt, chuyển động của các hạt tải điện có thể được mô tả bằng tổ hợp tuyến tính của các sóng phẳng có bước sóng vào cỡ nm. Nếu kích thước của khối bán dẫn giảm xuống, xấp xỉ giá trị của các bước sóng này, thì hạt tải điện bị giam trong khối kích thước nm3 này sẽ thể hiện tính chất giống như một hạt chuyển động trong một hộp thế năng (Hình 1.Để chế tạo các NC người ta có thể sử dụng hai phương pháp “bottom- up” (từ dưới lên) và “top-down” (từ trên xuống). Với phương pháp từ dưới lên, các NC lớn được tạo từ sự thêm liên tiếp các nguyên tử riêng biệt cho tới khi hình thành các NC.
Cách này phù hợp cho việc chế tạo các NC kích thước nhỏ. Với cách chế tạo từ trên xuống, khi đó các nano tinh thể nhỏ nhận được từ việc chia cắt các phiến tinh thể kích thước lớn. Trong tinh thể khối, sự kết hợp của rất nhiều orbital nguyên tử trong tinh thể (trên thực tế là vô cùng lớn) dẫn tới sự phân bố liên tục của các mức năng lượng, tạo thành các vùng năng lượng (Hình 1. Khi kích thước tinh thể giảm đến cỡ nm, khoảng cách giữa các mức năng lượng nằm trong một vùng năng lượng tăng lên đáng kể, nên chúng không thể được coi là phân bố liên tục nữa.
Ngoài ra, độ rộng vùng cấm nằm giữa hai vùng năng lượng được phép cũng tăng lên [12]. Sơ đồ minh họa các vùng năng lượng từ các quỹ đạo nguyên tử. Khi số nguyên tử tăng lên, khoảng cách giữa các mức năng lượng giảm đi [13]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Phổ hấp thụ và huỳnh quang của các NC phụ thuộc vào kích thước, được xác định bởi hiệu ứng kích thước lượng tử.
Hiệu ứng này làm thay đổi cơ bản toàn bộ phổ năng lượng của các giả hạt bị giam giữ theo cả ba chiều. Cả hai tính chất quang tuyến tính và quang phi tuyến của NC là kết quả của các chuyển dời giữa các mức điện tử và lỗ trống bị lượng tử hóa do kích thước. Những chuyển dời của hạt tải điện giữa hai mức năng lượng gián đoạn nói trên sẽ tạo ra quang phổ vạch. Hệ hạt khi đó được gọi là hệ bị giam giữ lượng tử.
Sự giam giữ lượng tử làm gián đoạn các mức năng lượng theo chiều giam giữ của các chuẩn hạt trong hệ và làm thay đổi mật độ trạng thái của chúng theo năng lượng như trình bày trên hình 1.1 [10,11] Tính chất quang của các NC xuất hiện từ các chuyển dời quang học được phép giữa các mức năng lượng lượng tử hóa của điện tử và lỗ trống được (Hình 1. Các chuyển dời quang học giữa các mức năng lượng lượng tử hóa của điện tử và lỗ trống trong NC bán dẫn [14]. Các trạng thái điện tử được đánh dấu bằng các kí tự để biểu thị các lượng tử momen góc l, kí tự S (l=0); P (l=1); D (l=2). Các trạng thái của điện tử có suy biến bậc 2(2l+1), ba trạng thái thấp nhất của điện tử là 1S, 1P và 1D.
Ba LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trạng thái đầu tiên của lỗ trống là 1S3/2, 1P3/2 và 2S3/2. Chỉ số dưới biểu thị lượng tử mômen góc toàn phần F, F = Lh+J trong đó Lh là mô men góc của hàm bao và J là mô men góc của hàm Bloch của lỗ trống. Các trạng thái của lỗ trống suy biến bậc (2F+1). Năng lượng của các chuyển dời quang học có thể được xác định từ phổ hấp thụ hoặc phổ kích thích huỳnh quang (PLE).
Các phương pháp chế tạo hạt nano CdS 2. Phương pháp sol –gel Cơ sở của phương pháp này là dựa vào sự lắng đọng của các vật liệu trong phản ứng hóa học, thường là sự lắng đọng của các halogenua hoặc các muối hữu cơ của các hợp chất bán dẫn [15]. Sol là trạng thái tồn tại của các hạt thể keo rắn bên trong chất lỏng và để cho các hạt rắn tồn tại ở trạng thái ổn định thì kích thước hạt phải đủ nhỏ để lực cần cho phân tán phải lớn hơn trọng lực. Hệ keo là các hạt thấy được mà không thể đi qua màng bán thấm, trên thực tế có kích thước từ 2 mm đến 0,2 m và trong mỗi hạt có khoảng từ 103 đến 109 phân tử.
Gel là chất rắn lỗ xốp có cấu tạo mạng liên kết 3 chiều bên trong môi trường phân tán chất lỏng và gel được hình thành từ các hạt keo gọi là colloide gel, còn trong trường hợp được tạo thành từ những đơn vị hóa học nhỏ hơn các hạt colloide thì gọi là gel cao phân tử. Phần lớn bên trong gel là nước nên trong trường hợp nước chiếm nhiều phần thì gọi là hydgel hay aquagel và trong trường hợp nước chiếm ít là được gọi là alcohol gel. Khi đã loại phần lớn chất lỏng thì gọi là gel khô và tùy theo phương pháp sấy khô người ta chia thành xerogel và aerogel. Phương pháp thủy nhiệt Phương pháp thủy nhiệt là phương pháp trong ngành hóa vật liệu dùng để thu các vật liệu vô cơ có cấu trúc nano tinh thể.
Tổng hợp thủy nhiệt là quá trình tổng hợp có nước tham gia với vai trò của chất xúc tác, xảy ra ở nhiệt độ cao (lớn hơn 100 0C) và áp suất lớn (lớn hơn vài atm). Trong phương pháp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 này người ta sử dụng khả năng hòa tan trong nước của hầu hết các chất vô cơ ở nhiệt độ cao, áp suất lớn và sự tinh thể hóa của chất lỏng vật liệu hòa tan. Dựa vào các kết quả thực nghiệm, ta thấy khoảng nhiệt độ được dùng trong quá trình thủy nhiệt từ 100 oC đến 1800 oC, áp suất khoảng 15 atm đến 104 atm. Các thí nghiệm dùng phương pháp thủy nhiệt được giữ ổn định, tránh rung động ở nhiệt độ và áp suất không đổi.
Nhiệt độ, áp suất nước và thời gian phản ứng là ba thông số chính trong phương pháp thủy nhiệt. Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng cho sự hình thành sản phẩm cũng như ổn định nhiệt động học của các pha sản phẩm. Áp suất cần thiết cho sự hòa tan, khoảng quá bão hòa tạo ra sự tinh thể hóa cũng góp phần tạo ra sự ổn định nhiệt động học của pha sản phẩm. Thời gian cũng là một thông số quan trọng bởi vì các pha ổn định diễn ra trong thời gian ngắn, còn các pha cân bằng nhiệt động học lại có xu hướng hình thành sau một khoảng thời gian dài.
* Ưu điểm: - Có khả năng điều chỉnh kích thước hạt bằng nhiệt độ thủy nhiệt - Có khả năng điều chỉnh hình dạng các hạt bằng các vật liệu ban đầu - Thu được sản phẩm chất lượng cao từ các vật liệu không tinh khiết ban đầu - Có thể dùng các nguyên liệu rẻ tiền để tạo các sản phẩm có giá trị - Có thể sử dụng nhiều nguyên liệu vào khác nhau. Là phương pháp đơn giản chế tạo tinh thể dưới nhiệt độ và áp suất cao 2. Phương Pháp đồng kết tủa Cơ sở của phương pháp này là sự kết tủa đồng thời của chất nền và chất kích hoạt. Pha hỗn hợp dung dịch chứa hai muối của chất nền và chất kích hoạt sao cho sản phẩm kết tủa thu được, ứng với tỉ lệ chất nền chất kích hoạt như trong sản phẩm mong muốn.
Trong phương pháp đồng kết tủa có hai vấn đề cần lưu ý: - Đảm bảo đúng quy trình đồng kết tủa cả hai kim loại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Phải đảm bảo trong hỗn hợp pha rắn chứa hai ion kim loại theo đúng tỉ lệ như trong sản phẩm mong muốn. Chúng ta đã biết tích số tan của các chất khác nhau là rất khác nhau. Do đó trong hỗn hợp hai chất kết tủa có thể chứa hai kim loại không đúng như hai kim loại đó trong dung dịch chuẩn ban đầu.
Vì vậy việc chọn điều kiện để thu được kết tủa có tỉ lệ các cation kim loại theo ý muốn đòi hỏi phải tiến hành thực nghiệm hoặc tính toán trước. Các phương pháp chế tạo và tính chất của hệ hạt nano CdS pha tạp Mn Theo nhóm nghiên cứu của nhóm tác giả Gadalla, A [16] hạt nano CdS pha tạp Mn được chế tạo bằng phương pháp hóa ướt [17]. Phương pháp chế tạo được trình bày cụ thể như sau: Các hóa chất, Cadmium Chloride (CdCl2) 99,5%, Sodium Sulfide Nonohydrate (Na2S.9H2O) 99%, Merceptoethenol (ME); (C2H5OSH) và Mangan clorua (MnCl2) 99% thu được từ Aldrich. Tất cả các hóa chất và dung môi đã được sử dụng là tinh khiết.
Tinh thể nano CdS pha tạp Mn được điều chế bằng phương pháp hóa ướt [17]. Mercaptoethanol được sử dụng làm chất kết nối cho các hạt nano tổng hợp. Nước được sử dụng trong quá trình pha các hóa chất đã được chưng cất, khử oxy và khử ion.