Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Cơ sở khoa học của đề tài Theo đánh giá sơ bộ cho thấy, mặc dù nấm là nguồn thực phẩm bổ dưỡng và có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, trên thị trường hiện nay, mặc dù nhu cầu sử dụng rất lớn nhưng sản phẩm từ nấm chưa có nguồn cung ứng ổn định, tình trạng đóng gói hàng giả xảy ra khá phổ biến do lợi nhuận cao và nhu cầu thị trường lớn. Đồng thời, tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật từ hóa học cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng sản phẩm cũng như sức khỏe của người sử dụng. Thái Nguyên là tỉnh nằm trong vùng trung tâm kinh tế, chính trị của vùng trung du miền núi nói phía Bắc, với vị trí là cửa ngõ thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với các vùng lân cận.
Phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Tây giáp với tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang; phía Bắc giáp với tỉnh Bắc Kạn và đặc biệt phía Nam tiếp giáp với trung tâm kinh tế xã hội lớn của cả nước là thủ đô Hà Nội (cách 80 km). Với địa hình thuận lợi chính là một lợi thế của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác (Giới thiệu tổng quan về Thái Nguyên, 2022). Đây là điều kiện tốt cho phát triển cây nấm. Thời vụ là thời gian tiến hành gieo trồng đối với các cây trồng trong nông nghiệp.
Thời vụ là một yếu tố rất quan trọng trong trồng trọt nói chung, yếu tố thời vụ góp phần quyết định đến năng suất và chất lượng của các sản phẩm nông nghiệp. Từng vùng sinh thái khác nhau sẽ có thời vụ gieo trồng thích hợp khác nhau với từng loại cây trồng giúp cho loại cây trồng đó dễ dàng thích nghi và khả năng sống sót cao hơn đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao, tránh được các rủi ro về thời tiết thiên tai và tăng khả năng chống chịu sâu bệnh hoặc tránh được thời điểm dễ phát sinh sâu bệnh hại trong điều kiện khí hậu vùng đó. 5 Với xu hướng phát triển ngành nông nghiệp bền vững, Sử dụng giá thể hữu cơ để trồng trọt từ lâu ở các nước thế giới như Mỹ, Nhật Bản. đã được thực hiện phổ biến, nhưng tại Việt Nam chưa được quan tâm nhiều.
Tại Việt Nam cũng có một số nghiên cứu như: Năm 2013, Nguyễn Thái Huy và cs. đã nghiên cứu sản xuất tạo ra hỗn hợp giá thể hữu cơ được hình thành từ vỏ cà phê và bã mía sau khi đã ủ trong thời gian 3 tháng với chế phẩm sinh học. Năm 2006, Nguyễn Duy Hạng và cs. đã tiến hành nghiên cứu sản xuất ra các loại giá thể tổng hợp để trồng hoa từ phế phụ phẩm nông nghiệp… Tuy nhiên, phần lớn đều được bổ sung phân khoáng hóa học trong quy trình sản xuất vào các loại giá thể này do đó ít nhiều vẫn sẽ có ảnh hưởng không tốt đến môi trường.
Hơn nữa, Giá thể hữu cơ chuyên dụng từ phế phụ phẩm nông nghiệp để phục vụ trồng rau an toàn tại Việt Nam chưa có loại nào để đáp ứng nhu cầu thiết thực của người dân. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này rất có ý nghĩa, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đồng thời tận dụng nguồn phế thải hữu cơ để sản xuất giá thể hữu cơ có chất lượng cao. Khái quát chung về loài nấm Trên thế giới đã thống kê, có khoảng 2.000 loài nấm ăn được, trong đó có 80 loại nấm được nuôi trồng và tiêu thụ với sản lượng lớn. Nấm có lợi thế rất lớn do chứa nhiều chất dinh dưỡng nguồn gốc tự nhiên như nhiều đạm, ít mỡ, ít calo và rất nhiều các chất có ích cho cơ thể con người như đa đường và khoáng.
Người ta coi chất đạm của nấm ăn, của thực vật, của động vật sẽ là 3 nguồn đạm quan trọng của con người. Ở Việt Nam, ngành nấm đang ngày một phát triển, có rất nhiều loại nấm ăn và nấm dược liệu được ưa chuộng và sản xuất phổ biến như: Mộc nhĩ, nấm rơm, nấm mỡ, nấm sò, nấm Linh chi. Nấm sò Nấm Sò (nấm Bào ngư) Pleurotus ostreatus, tên tiếng Anh là Oyster Mushroom thường mọc hoang trên thân gỗ, mọc đơn độc hay mọc chồng lên nhau và có nhiều loại khác nhau về màu, hình dáng, ít bệnh, rất dễ trồng. 6 Nhiệt độ thích hợp: Nhóm chịu lạnh: 13 – 20oC Nhóm chịu nhiệt: 24 – 28oC.
Độ ẩm: 60 – 65%, độ ẩm không khí: ≥ 80% (Đinh Xuân Linh và cs. Ảnh nấm Sò Phân loại về cây nấm: Giới (regnum): Nấm (Fungi) Ngành (phylum): Nấm đảm (Basidiomycota) Lớp (class): Nấm tản (Agaricomycetes) Bộ (ordo): Nấm tản (Agaricales) Họ (familia): Nấm sò (Pleurotaceae) Chi (genus): Nấm sò (Pleurotus) Nấm Sò chứa nhiều protein, vitamin và các axit amin có nguồn gốc thực vật, dễ hấp thụ. Hàm lượng đạm ≥ 30% hoàn toàn có thể thay thế đạm từ thịt, cá… Có nguồn gốc thực vật, hàm lượng hydratcacbon chiếm 58% so với chất 7 khô. Hàm lượng các loại vitamin và chất khoáng cũng cao so với những loại nấm khác.
Như: axit nicotinic: 108mg/100g chất khô, ribofla-vin: 4,8mg/100g chất khô, thia-min: 4,8mg/100g chất khô, sắt: 15,2mg; canxi: 33mg; photpho: 1350g. Hàm lượng axit amin không thay thế có trong nấm sò khá cao như Lizin là 321mg/100g chất khô, Histi-din 87mg/100g chất khô, Arginin 306mg/100g chất khô, Theo-nin 264mg/100g chất khô, Valin 390mg/100g chất khô. Nấm Sò có vị ngọt, tính ấm. Trong nấm sò còn có chất plutorin có công hiệu kháng khuẩn gram dương và kháng cả tế bào ung thư.
Trong Đông y, Nấm sò có tác dụng phòng và chữa các bệnh như làm hạ huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đường ruột, làm giảm cholesteron trong máu, hỗ trợ người bị bệnh gút trong chế độ dinh dưỡng (Đinh Xuân Linh và cs. Sau khi nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra kết quả cho thấy trong nấm sò có chất kháng sinh tự nhiên là pleurotin, có tác dụng ức chế hoạt động của vi khuẩn Gram dương. Bên cạnh đó, Nghiên cứu của Yoshioka và cộng sự (năm 1975) cũng đã tìm ra chất polysaccharide trong nấm Sò có tính kháng ung bướu. Cả hai đều có nguồn gốc là glucose.
Trong đó chất được biết nhiều nhất, bao gồm có 69% β (1-3) Glucan, 13% Galactose, 6% Mannose, 13% Uronic axit (Lê Duy Thắng, Trần Văn Minh, 2001). Nấm Sò mang lại hiệu quả kinh tế cao, Theo ước tính, 4.200 bịch nấm sẽ sản xuất được 4,2 tấn nấm sò trắng, với giá trên thị trường hiện nay là 35.000 đồng /1kg, sau khi trừ chi phí cho thu nhập trên 70 triệu đồng/vụ trong vòng 6 tháng (APA Group 2018). Nấm Hương Nấm hương hay còn gọi là nấm đông cô (Donko) danh pháp Lentinula edodes. Là một loại nấm có nguồn gốc bản địa ở Đông Á, ở vùng có khí hậu ôn đới mát ẩm.
Ở Việt Nam, nấm hương mọc hoang nhiều trên thân gỗ lớn ở các vùng rừng, núi như Tuyên Quang, Hòa Bình, Thái Nguyên, Cao Bằng… 8 Hình 1. Ảnh nấm Hương Phân loại về nấm Hương: Giới (regnum): Nấm (Fungi). Loài (species): Lentinula edodes Nấm Hương thích hợp với khí hậu ôn đới. Nhiệt độ để sợi nấm phát triển (pha sợi) khoảng 20 – 25oC.
Quả thể nấm hình thành và phát triển ở nhiệt độ khoảng 16 – 18oC. độ ẩm không khí: ≥ 80 %, độ pH trung tính. 9 Nấm Hương có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein 13% so với chất khô, hàm lượng lipit 5% so với chất khô, hàm lượng Hydratcacbon 78% so với chất khô, vitamin và chất khoáng. Nấm hương có mùi thơm đặc biệt là nhờ có một số alcool hữu cơ và khi được nấu chín với nhiệt độ cao, các alcool này sẽ biến đổi, tạo nên mùi thơm đặc trưng đó.
Giá trị y dược, nấm hương có vị ngọt, mùi thơm, thính bình, có tác dụng bổ tỳ, chống viêm, chữa suy nhược cơ thể, chứng chân tay tê bại, tổn thương huyết quản… Nấm hương có tác dụng kích hoạt cho bổ thể. Bổ thể là nhóm protein huyết thanh cực kỳ phức tạp, chúng có 9 loại ký hiệu từ C1 đến C9. Thành phần chất đa đường có trong nấm hương có tác dụng kích thích bổ thể C3a và C3b làm hoạt hóa các tế bào đại thực bào, hình thành các hermaprotein miễn dịch loại IgG, IgA, IgM trong các phản ứng miễn dịch của cơ thể. Hạ hàm lượng mỡ và cholesterol trong máu (Đinh Xuân Linh và cs, 2010).
Kết quả nghiên cứu dự án: Xây dựng mô hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ nấm Hương tại vùng núi cao xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.000 bịch nấm hương cho lợi nhuận 198.000 đồng, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho địa phương (Hoàng Văn Trọng, 2021). Nấm Linh chi Nấm Linh chi (nấm lim, tiên thảo.): Ganoderma lucidum, thuộc Chi Ganoderma. Hiện nay trên thế giới có khoảng 50 loài, khoảng 48 loài khác nhau ở Trung Quốc và 37 loài ở Việt Nam và chúng phân bố trong các rừng có nhiều loại cây lá rộng, nhất là rừng gỗ lim nên còn gọi là nấm Lim. Nhiệt độ thích hợp ở các giai đoạn như sau: Giai đoạn nuôi sợi: 20 – 30oC, giai đoạn quả thể: 22 – 28oC.
Trên thế giới hiện nay có hơn 250 loài nấm Linh chi sau khi phân loại đã được mô tả. Tuy nhiên nấm Linh chi đỏ tên khoa học là Ganoderma 10 lucidum được đưa vào nghiên cứu và sử dụng nhiều nhất trong trị liệu (Lê Xuân Thám, 2005). Các dược chất trong nấm Linh chi là các polysaccharecdes dễ tan trong nước có tác dụng chống rối loạn miễn dịch và làm chống cao huyết áp, chống ung thư. Ngoài ra, còn có triterpenes hay ganoderic acids giúp làm giảm nhẹ các biểu hiện của dị ứng bằng cách ức chế sự phóng thích histamin của cơ thể, đẩy mạnh sự hấp thụ oxy và làm tăng sự hoạt động của gan.
Nấm Linh chi còn có tác dụng rất tốt đối với các vấn đề sức khỏa phổ biến hiện nay như làm giảm hàm lượng mỡ và cholesterol trong máu, sức đẩy máu đi và giảm mức tiêu hao oxy trong cơ thể. Có tác dụng an thần, trị bệnh thần kinh suy nhược, mắt kém… Bài tiết chất độc trong cơ thể, loại bỏ các sắc tố lạ trên da, thúc đẩy quá trình hình thành protein, DNA, RNA; làm da dẻ đẹp và kéo dài tuổi thọ (Đinh Xuân Linh và cs, 2010).Tình hình nghiên cứu về cây nấm. Một số kết quả nghiên cứu về nguyên liệu trồng; thời vụ trồng nấm và mô hình trồng nấm mang lại hiệu quả kinh tế cao ở Việt Nam. Về nguyên liệu trồng: Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Luyện và cs.