Đặt vấn đề Cracking xúc tác cặn dầu (RFCC) là một trong những quá trình quan trọng nhất trong nhà máy lọc dầu. Trong đó, chất xúc tác không những đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng sản phẩm, nâng cao hiệu suất và chất lượng sản phẩm mà còn ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của toàn bộ NMLD do tác động trực tiếp đến chi phí vận hành phân xưởng cracking. Trong quá trình hoạt động, xúc tác FCC bị mất dần hoạt tính do đó cần bổ sung thêm lượng xúc tác mới. Chi phí bổ sung xúc tác hàng ngày chiếm phần quan trọng trong chi phí vận hành của NMLD.
Ví dụ chi phí thay thế xúc tác RFCC trong phân xưởng FCC NMLD Dung Quất khoảng 3,5 triệu USD/năm nếu chế biến 100% dầu Bạch Hổ và khoảng 10 triệu USD/năm nếu chế biến 85% dầu thô Bạch Hổ và 15% dầu thô Dubai. Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp dầu mỏ đang đối mặt với thách thức nguồn dầu thô ngọt nhẹ ngày càng cạn kiệt, do đó, vấn đề khai thác và chế biến các nguồn dầu chua, nặng có chất lượng thấp đang là khuynh hướng chung trên toàn thế giới. Các nguồn dầu thô nặng ngoài việc chứa các cấu trúc hydrocacbon phức tạp khó chế biến thì còn chứa nhiều kim loại có khả năng gây ngộ độc cho xúc tác FCC, làm giảm khả năng chuyển hóa, giảm độ chọn lọc xăng, tăng cặn nặng. Các tạp chất kim loại Ni, V xuất hiện đồng thời trong dầu thô là nguồn gây ngộ độc chính cho xúc tác FCC.
Tuy nhiên, sự tăng cao hàm lượng các kim loại khác như Fe, Ca gần đây cũng gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của cụm phân xưởng FCC. Đa số các nghiên cứu hiện nay đều tập trung vào ảnh hưởng của Ni cũng như V, trong khi ảnh hưởng của Fe không được nghiên cứu nhiều. Do đó, việc làm rõ mức độ ảnh hưởng của tạp chất Fe đến tính chất hóa lý, hoạt tính và độ chọn lọc của xúc tác cracking là cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng hệ thống thí nghiệm và hoàn thiện quy trình giảm hoạt tính xúc tác theo phương pháp cấy kim loại tuần hoàn CMD quy mô phòng thí nghiệm.
Khảo sát ảnh hưởng của sắt tích tụ trên xúc tác đến các tính chất xúc tác và phân bố cơ cấu Nghiên cứu ảnh hưởng kim loại sắt tích tụ trên xúc tác cracking theo phương pháp cấy kim loại tuần hoàn -8- sản phẩm của phản ứng cracking xúc tác. Nội dung nghiên cứu Hiện trạng và nguyên nhân của việc lắng đọng tạp chất Fe lên xúc tác FCC; Ảnh hưởng tạp chất sắt tích tụ trên xúc tác đến tính chất xúc tác và hoạt động của phân xưởng FCC; Lựa chọn phương pháp và xây dựng hệ thống thiết bị, thiết lập quy trình giảm hoạt tính xúc tác theo phương pháp cấy kim loại tuần hoàn; Khảo sát và đánh giá tác động của sắt tích tụ trên xúc tác đến các tính chất hoá lý và hoạt tính xúc tác trong phản ứng cracking xúc tác. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Mẫu xúc tác mới và xúc tác cân bằng được lấy từ nhà máy lọc dầu Dung Quất ; Phát triển hệ thiết bị và hoàn thiện quy trình giảm hoạt tính xúc tác theo phương pháp cấy kim loại sắt tuần hoàn. Thực hiện giả lập xúc tác cân bằng có cấy kim loại sắt, canxi và natri vào xúc tác trên hệ thiết bị cấy kim loại tuần hoàn (CMD); Sử dụng các phương pháp đặc trưng xúc tác hiện đại như BET, XRD, XRF, SEM, ABD, PSD, MAT để phân tích cấu trúc, tính chất hoá lý và hoạt tính của các mẫu xúc tác mới, xúc tác giả lập và xúc tác cân bằng.
Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận văn Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ cơ chế tích tụ của tạp chất sắt lên xúc tác cracking và các tác động của sắt đến tính chất hoá lý, hoạt tính xúc tác cracking; Kết quả nghiên cứu này còn là cơ sở dữ liệu tham khảo cho NMLD khi xem xét các ảnh hưởng đến tính chất xúc tác và cơ cấu sản phẩm cracking khi nồng độ sắt trong xúc tác tăng cao. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa to lớn đối với các nhà sản xuất xúc tác trong việc thiết kế và mô phỏng để sản xuất loại xúc tác có chức năng kháng được tạp chất sắt. Nghiên cứu ảnh hưởng kim loại sắt tích tụ trên xúc tác cracking theo phương pháp cấy kim loại tuần hoàn -9- CHƯƠNG II. TỔNG QUAN II.
Quá trình cracking xúc tác Quá trình cracking xúc tác tầng sôi cặn dầu (FCC) là quá trình chuyển hóa các hydrocacbon phân tử lượng lớn trong phân đoạn cặn dầu thành các hydrocacbon phân tử lượng nhỏ hơn trong phân đoạn xăng và khí. Nguyên liệu cho quá trình FCC thường là các phân đoạn nặng chưng cất trực tiếp từ dầu thô, như cặn khí quyển AR (> 350 oC), gasoil chân không VGO (350 – 550 oC). Sản phẩm của quá trình cracking xúc tác được chia thành 6 nhóm chính, bao gồm: Khí khô (H2, CH4, C2H6, C2H4, và H2S); LPG (Liquefied petroleum gas): gồm các hydrocacbon khí C3, C4; Xăng (phân đoạn có khoảng nhiệt độ sôi dưới 221 ºC); LCO (phân đoạn có khoảng nhiệt độ sôi từ 221 ºC đến 360 ºC): phân đoạn dầu hoả, phân đoạn dầu Diesel; HCO và Slurry (phân đoạn có khoảng nhiệt độ sôi lớn hơn 360 ºC): dầu đốt lò FO, dầu nhờn, bitum; Cốc. Một phân xưởng FCC điển hình bao gồm các cụm chủ yếu sau: Cụm thiết bị phản ứng (reactor): bao gồm ống nâng (riser) và bộ phận phân tách sản phẩm bằng hơi nước (stripper).
Bộ phận stripper sau ống nâng có nhiệm vụ tách các hơi hydrocacbon ra khỏi dòng xúc tác. Sản phẩm sau đó được dẫn về tháp chưng cất, còn xúc tác sẽ được tiếp tục luân chuyển sang thiết bị tái sinh. Cụm thiết bị tái sinh xúc tác (regenerator): tại đây cốc bám trên xúc tác bị đốt cháy một phần hoặc hoàn toàn bằng không khí. Quá trình này làm cho hoạt tính xúc tác được khôi phục và xúc tác tiếp tục luân chuyển sang lò phản ứng thực hiện chu trình cracking kế tiếp.
Nghiên cứu ảnh hưởng kim loại sắt tích tụ trên xúc tác cracking theo phương pháp cấy kim loại tuần hoàn -10- Xúc tác sau khi ra khỏi lò tái sinh được gọi là xúc tác tái sinh (regenerated catalyst) và xúc tác sau khi ra khỏi cụm thiết bị phản ứng được gọi là xúc tác đã sử dụng (spent catalyst). Sơ đồ công nghệ điển hình cho quá trình cracking xúc tác [1]. Phân xưởng FCC của nhà máy lọc dầu Dung Quất sử dụng công nghệ R.R, bản quyền của IFP/AXENS. Công suất thiết kế 69.700 BPSD sử dụng nguyên liệu Bạch Hổ hoặc dầu trộn Bạch Hổ + Dubai.
Lượng xúc tác đưa vào ban đầu 600 tấn. Lượng xúc tác bổ sung (tấn/ngày): 15,2 (đối với dầu trộn) / 5,5 (đối với dầu Bạch Hổ) [2]. Xúc tác cho quá trình cracking Chất xúc tác cho quá trình cracking tầng sôi (FCC) bao gồm 2 hợp phần chính là zeolite và pha nền (matrix). Khái niệm matrix được dùng để chỉ các hợp phần khác ngoài zeolite.
Ngoài ra, trong một số trường hợp còn có thể có một số loại phụ gia được thêm vào xúc tác FCC để nâng cao hiệu quả của xúc tác [3]. Nghiên cứu ảnh hưởng kim loại sắt tích tụ trên xúc tác cracking theo phương pháp cấy kim loại tuần hoàn -11- Hình II. Cấu tạo hạt xúc tác FCC [4]. Zeolite là thành phần quan trọng nhất của xúc tác FCC.
Zeolite chiếm từ 10 – 50 % khối lượng xúc tác và quyết định chính đến khả năng cracking của xúc tác cũng như hiệu suất các sản phẩm xăng và LPG. Zeolite được tổng hợp quy mô thương mại từ nguồn nguyên liệu chứa silic và nhôm như thủy tinh lỏng (Na2SiO3), nhôm hydroxide (Al(OH)3), nhôm sulfate (Al2(SO4)3) hay natri aluminate (NaAlO2) và chất tạo mầm. Đôi khi zeolite được tổng hợp từ quá trình tinh thể hóa đất sét nung. Zeolite trước khi đưa vào xúc tác FCC thường được bổ sung nguyên tố đất hiếm để tạo các zeolite siêu bền.
Hợp phần quan trọng thứ hai của chất xúc tác FCC là pha nền, chiếm từ 50 – 90 % khối lượng. Pha nền bao gồm các thành phần chính là khoáng sét, chất kết dính (thông thường là các loại sol của oxit silic, nhôm hay kết hợp silic-nhôm), ngoài ra có thể có chất hoạt động (nhôm hoạt tính) và các loại phụ gia. Ngoài các chức năng vật lý hết sức quan trọng của pha nền như giúp kết dính các thành phần của xúc tác và tải nhiệt; là môi trường pha loãng (giúp giảm tác động của kim loại trong nguyên liệu) và hỗ trợ khuếch tán, pha nền còn giúp tối thiểu sản phẩm cốc và phần nặng so với xúc tác thông thường. Nguyên liệu càng nặng và càng xấu hơn thì vai trò của pha nền càng trở nên quan trọng hơn [3].
Nghiên cứu ảnh hưởng kim loại sắt tích tụ trên xúc tác cracking theo phương pháp cấy kim loại tuần hoàn -12- Hoạt tính của xúc tác tạo nên bởi các tâm axit. Có hai loại tâm axit tồn tại trong zeolite: Bronsted và Lewis. Tâm axit Bronsted được tạo ra chủ yếu do sự bù trừ điện tích khung của proton H+ do sự có mặt của nguyên tử Al+3 tứ diện trong khung mạng tinh thể zeolite, trong khi đó, tâm axit Lewis chủ yếu do các dạng Al ngoài mạng đóng góp. Cấu trúc zeolite USY và tứ diện SiO4 và AlO4 trong zeolite II.
Phản ứng cracking xúc tác Phản ứng cracking xúc tác là phản ứng chuyển hóa các hydrocacbon phân tử lượng lớn của dầu mỏ thành các phân tử hydrocacbon nhỏ hơn trong phân đoạn xăng, LPG (Liquified Petroleum Gas) theo cơ chế cacbocation trên các tâm axit của xúc tác rắn alumino-silicat. Các tâm axit này phân bố trên các lỗ xốp kích cỡ macro (kích cỡ lỗ xốp > 50 nm), meso (2 nm < kích cỡ lỗ xốp <50 nm) và micro (kích cỡ lỗ xốp < 2 nm). Quá trình cracking phân tử dầu thô Nghiên cứu ảnh hưởng kim loại sắt tích tụ trên xúc tác cracking theo phương pháp cấy kim loại tuần hoàn -13- Quá trình cracking xúc tác thông thường sử dụng nguyên liệu là các phân đoạn nặng chưng cất trực tiếp từ dầu thô, nhiệt độ sôi > 350 ºC. Sản phẩm cracking là các phân đoạn có nhiệt độ sôi thấp hơn có giá trị hơn so với nguyên liệu được trình bày trong Hình II.