CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC HỆ TRUYỀN ĐỘNG XOAY CHIỀU THAY ĐỔI TẦN SỐ 1.1 Khái quát chung Sự phát triển của nền công nghiệp hóa và tự động hoá ở các quốc gia hiện nay đang được các hệ thống truyền động điện (TĐĐ) xoay chiều tần số thay đổi (TSTĐ) tác động đến rất mạnh. Ngày nay, nhờ sự phát triển công nghệ chế tạo linh kiện bán dẫn công suất lớn ( tranzistor MOSFET, IGBT…) và vi mạch sử lý số (DSP), điều chỉnh số (DC) đã dẫn đến việc sử dụng rộng rãi các hệ truyền động điện dùng động cơ xoay chiều và việc hình thành các hệ thống điều khiển mới cho loại động cơ này. Hoà chung vào nền công nghiệp phát triển của thế giới, nền công nghiệp của nước ta đã có những bước phát triển đáng kể, hàng năm sản xuất ra hàng chục ngàn động cơ, chưa tính số nhập khẩu [6]. Vì vậy tiềm năng tiết kiệm năng lượng từ số động cơ này khi áp dụng các kỹ thuật tiết kiệm năng lượng là rất lớn.
Có thể nói rằng các hệ thống TĐĐ tiêu thụ tới 2/3 tổng lượng điện tiêu thụ trong công nghiệp, vì vậy chúng đóng vài trò then chốt trong việc tiết kiệm năng lượng. Việc tiết kiệm năng lượng sẽ mang lại lợi ích rất lớn không chỉ về mặt kinh tế mà còn có tác dụng bảo vệ môi trường Theo [3], hệ thống TĐĐ xoay chiều đầu tiên (với công suất 400 hp) sử dụng bộ biến đổi tiratron cấp cho động cơ đồng bộ (ĐC ĐB) cực lồi, được lắp đặt năm 1932. Hệ TĐĐ TSTĐ này được lắp đặt nhằm mục đích tiết kiệm năng lượng. Cùng khoảng thời gian này (1930), ngành đường sắt Đức đã dùng các bộ biến tần trực tiếp hơi thuỷ ngân (mercury-arc cycloconverter) biến đổi 2 50Hz thành 16 3 Hz dùng cho truyền động động cơ xoay chiều dùng trong -3- giao thông.
Mặc dù các hệ thống TĐĐ TSTĐ đã được biết đến từ những năm 1930, nhưng sự ra đời của tiristor hay IGBT và các linh kiện bán dẫn chất lượng cao, các vi mạch điều khiển, các IC chuyên dụng, hoàn thiện các mạch bộ biến đổi, các kỹ thuật điều khiển mới thực sự thúc đẩy mạnh kỹ thuật TĐĐ và sự chấp nhận của thị trường. Mục tiêu là nâng cao hiệu suất, thời gian đáp ứng bằng 0, không có sóng hài với hệ số cos bằng 1, không có tiếng ồn, dải điều chỉnh bằng vô cùng, hoạt động ở nhiệt độ cao, không bị chi phối bởi chất lượng xấu của nguồn lưới, hoạt động không có lỗi, chất lượng ổn định không phụ thuộc vào sự thay đổi thông số và ảnh hưởng của nhiễu tải, tích hợp bộ biến đổi và máy điện thành một đơn vị, và tất cả các yêu cầu trên đang là vấn đề được nghiên cứu và áp dụng. Chúng ta cũng nhận ra rằng, điện tử công suất và hệ thống truyền động điện tần số thay đổi sẽ là kỹ thuật then chốt cho các cuộc chạy đua công nghiệp toàn cầu trong thế kỷ 21 này. Các cấu trúc bộ biến đổi tần số điển hình Trong thực tế sử dụng điện năng, ta cần thay đổi tần số của nguồn cung cấp, do vậy các bộ biến tần được sử dụng rộng rãi trong truyền động điện, trong các thiết bị đốt nóng bằng cảm ứng, trong thiết bị chiếu sáng… Bộ biến tần là thiết bị biến đổi năng lượng điện từ tần số công nghiệp (50Hz) sang nguồn có tần số thay đổi cung cấp cho động cơ xoay chiều.
Có rất nhiều cấu trúc bộ biến đổi tần số, tuy nhiên ta có thể phân thành 3 cấu trúc điển hình nhất là bộ biến tần trực tiếp, bộ biến tần gián tiếp và bộ biến đổi ma trận. Nói chung các bộ biến đổi đều phải thoả mãn các điều kiện: - Có khả năng điều chỉnh tần số, theo giá trị tốc độ đặt mong muốn - Có khả năng điều chỉnh điện áp theo tần số, để duy trì từ thông khe hở không đổi trong vùng điều chỉnh mô men không đổi. -4- - Có khả năng cung cấp dòng điện định mức ở mọi tần số. Dưới đây ta sẽ lược qua các cấu trúc và đặc điểm của từng cấu trúc đó.
Bộ biến tần trực tiếp Biến tần trực tiếp làm nhiệm vụ biến đổi tần số đầu vào f 1 thành tần số đầu ra f2 bằng cách đóng cắt dòng xoay chiều tần số f 1. Nói chung, tần số và điện áp ra luôn nhỏ hơn tần số và điện áp vào. Năng lượng trao đổi trực tiếp không thông qua khâu trung gian, năng lượng từ tải có thể quay trở về lưới khi một bộ biến đổi làm việc ở chế độ nghịch lưu phụ thuộc như vậy hiệu suất trong bộ biến tần trực tiếp là rất cao. Theo [2,3], nguyên lý biến tần trực tiếp đã được cấp bằng phát minh từ năm 1920.
Năm 1930 ở Đức đã sử dụng bộ 16 2Hz chỉnh lưu có điều khiển bằng đèn thuỷ ngân để tạo nên tần số dùng 3 trong truyền động động cơ xoay chiều một pha trong giao thông. Đồng thời, trong thời gian này bộ biến tần trực tiếp sử dụng 18 đèn tiratron cung cấp cho động cơ đồng bộ 400 mã lực được sử dụng tại hoa kỳ. Từ khi phát minh ra tiristo, các bộ biến tần công suất lớn điều khiển vi xử lý được sử dụng rộng rãi trong truyền động tốc độ thấp công suất lớn. Thiết bị biến tần trực tiếp về mặt cấu trúc, tuy lược bỏ được thiết bị chỉnh lưu đảo chiều trung gian nhưng số lượng linh kiện lại tăng lên rất nhiều, kích thước tổng tăng lên rất lớn.
Ngày nay, các bộ biến tần trực tiếp thường chỉ được sử dụng làm bộ biến đổi cho loại tải có tốc độ thấp công suất rất lớn, điển hình như được dùng trong các hệ truyền động động cơ đồng bộ mà yêu cầu thường xuyên làm việc ở tốc độ thấp như máy cán thép, máy nghiền bi… 1.2 Bộ biến tần gián tiếp Bộ biến tần gián tiếp là bộ biến đổi tần số phổ biến nhất hiện nay. Về thực chất, cấu trúc của bộ biến đổi này là sự kết hợp giữa hai bộ biến đổi, bộ -5- chỉnh lưu và bộ nghịch lưu. Như vậy, để biến đổi tần số cần thông qua khâu trung gian một chiều. Cấu trúc tổng quát chỉ ra trên hình 1.
a Mạch Mạch A lọc b B u2, f2 u1, f1 chỉnh nghịch mạ ch c lưu lưu C Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc tổng quát của bộ biến tần gián tiếp Bộ biến tần gián tiếp có thể được chia ra làm ba loại chính tuỳ thuộc vào bộ chỉnh lưu và nghịch lưu (hình 1.2 Sơ đồ khối của các bộ biến tần gián tiếp - Bộ biến tần với nghịch lưu nguồn áp điều biến độ rộng xung với bộ chỉnh lưu dùng điốt (hình 1. Điện áp một chiều từ bộ chỉnh lưu không điều khiển có trị số không đổi được lọc nhờ một tụ điện có trị số khá lớn. Điện áp và tần số được điều chỉnh nhờ bộ nghịch lưu điều biến độ rộng xung -6- (PWM), các mạch nghịch lưu bằng các tranzitor (BJT, MOSFEST, IGBT) được điều khiển theo nguyên lý PWM đảm bảo cung cấp điện áp cho động cơ có dạng gần sin nhất. - Bộ biến tần nghịch lưu nguồn áp dạng xung vuông và bộ chỉnh lưu điều khiển (hình 1.
Điện áp điều chỉnh nhờ bộ chỉnh lưu có điều khiển ( thông thường bằng tiristo hoặc tranzitor), bộ nghịch lưu có chức năng điều chỉnh tần số động cơ. Điện áp ra có dạng hình xung vuông. - Bộ biến tần với nghịch lưu dòng điện và chỉnh lưu điều khiển dùng tiristo (hình 1. Nguồn một chiều cung cấp cho nghịch lưu là nguồn dòng với bộ lọc là cuộn kháng đủ lớn.
Sau đây ta sẽ xem xét đến từng khối như trong sơ đồ cấu trúc tổng quát (hình 1. * Bộ chỉnh lưu Chỉnh lưu dùng để biến đổi điện áp xoay chiều thành một chiều, chỉnh lưu có thể là không điều khiển hoặc có điều khiển.3 Cấu trúc của một số bộ chỉnh lưu sử dụng cho bộ biến tần gián tiếp; a)Chỉnh lưu dùng điôt; b)Chỉnh lưu dùng Tiristo; c) Chỉnh lưu dùng IGBT (PWM) -7- Hiện nay có 3 cấu trúc của bộ chỉnh lưu thường được sử dụng như trên hình 1. Bộ chỉnh lưu điốt là cấu trúc phổ biến nhất hiện nay (hình 1.3a), và được sử dụng ở dải công suất biến tần trong khoảng dưới chục kW. Bộ chỉnh lưu sử dụng điôt hay Tiristo làm méo dạng sóng của điện áp nguồn.
Hơn nữa với bộ chỉnh lưu Tiristo, hệ số cos tỷ lệ với góc mở của các Tiristo, do đó làm giảm chất lượng của lưới điện. Để khắc phục các nhược điểm đó, người ta sử dụng bộ chỉnh lưu điều biến độ rộng xung (PWM). Bộ chỉnh lưu PWM có ưu điểm là hệ số cos không đổi và gần như bằng 1 trong suốt dải điều chỉnh. Nhược điểm của các cấu trúc bộ chỉnh lưu hình 1.3b là nó chỉ cho phép dòng điện đi theo một chiều từ lưới vào.
Tuy nhiên, nhiều biến tần dùng làm bộ nguồn cho các loại tải có yêu cầu hoàn trả năng lượng về lưới, điển hình như động cơ điện. Khi điều khiển giảm tốc độ động cơ đột ngột, thì động cơ sẽ chuyển sang làm việc ở chế độ hãm tái sinh, như trên hình 1. Cơ năng từ cơ cấu sản xuất sẽ được biến thành điện năng ở đầu cực động cơ. Điện 2 1 năng này qua bộ nghịch lưu sẽ tạo ra điện 3 Vï ng h·m t¸i sinh áp lớn trên tụ lọc.3c đưa ra cấu trúc bộ chỉnh lưu cho phép hoàn trả năng lượng về lưới khi tải động cơ làm việc ở chế độ hãm tái sinh.4 Hãm tái sinh khi khi động cơ làm việc ở chế độ động cơ thì giảm tốc độ đột ngột 6 điôt sẽ tạo thành một bộ cầu chỉnh lưu và cấp nguồn một chiều cho phần mạch phía sau.
Khi xảy ra hãm tái sinh, do điện áp trên mạch lọc tăng lên, nên các điốt sẽ bị khóa lại, và mạch điều khiển nghịch lưu sẽ mở các van IGBT theo một trình tự nhất định để thực hiện hoàn trả năng lượng về nguồn lưới. * Bộ lọc -8- Có hai vị trí trong một bộ biến tần gián tiếp cần bộ lọc là sau chỉnh lưu và sau nghịch lưu. + Bộ lọc san phẳng điện áp ra của bộ chỉnh lưu: Đầu ra của bộ chỉnh lưu là điện áp một chiều, với các chỏm hình sin nhấp nhô. Bộ lọc có tác dụng san phẳng các đỉnh sin này trong điện áp và dòng điện chỉnh lưu.