Đặt vấn đề Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến, đây là nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho cộng đồng địa phương trong việc phòng chữa bệnh ngoài ra nó còn có giá trị bảo tồn nguồn gen, cung cấp cho lĩnh vực dược học. Đất nước ta, với một vị trí tự nhiên hiếm có, một mặt gắn liền với lục địa, mặt khác lại thông với đại dương và nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, khí hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng, thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở vùng núi thấp phía Nam, đến khí hậu mang tính chất Á nhiệt đới vùng núi cao ở các tỉnh phía Bắc. Điều kiện tự nhiên đó đã thực sự ưu đãi cho đất nước và con người Việt Nam một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, một tiềm năng to lớn về tài nguyên cây thuốc nói riêng và tài nguyên dược liệu nói chung. Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên thực vật giàu có bậc nhất Đông Nam Á, là nơi tập trung nhiều cây thuốc quý hiếm, với hơn 54 dân tộc sinh sống và họ có truyền thống lâu đời trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thực vật trong đó có tài nguyên cây dược liệu.
Cây Sơn Đậu còn gọi là Sơn Đậu Căn (Sophora tonkinensis Gapnep) là cây dược liệu được dùng để làm thuốc có giá trị về nhiều mặt, cây có những công dụng chữa nhiều bệnh như thanh nhiệt giải độc, tiêu sưng giảm đau, thông tiện. Ngoài ra còn trị ung thư phổi, bệnh bạch huyết, chữa chứng ác tính, ung thư bàng quang, viêm họng, viêm amidal,… Về phương diện nào đó, cũng như cây xanh, nó có ý nghĩa rất lớn,chi phối các yếu tố khí hậu, tạo môi trường trong lành, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. n 2 Để phục vụ cho việc tạo cảnh quan môi trường và việc cung cấp dược liệu quý trong y học thì công tác tạo ra giống là hết sức quan trọng. Trong những năm gần đây, các trung tâm nghiên cứu giống cây trong cả nước đã tiến hành nghiên cứu về chọn giống, tạo giống, khảo nghiệm giống cây trồng cho nhiều loài cây đã đạt 1 số kết quả bước đầu nhất định.
Một trong những phương pháp nhân giống duy trì được nguyên vẹn những tính trạng tốt từ đời trước cho đời sau là phương pháp nhân giống bằng hom. Nhân giống bằng hom là phương thức nhân giống được dùng rộng rãi cho 1 số loài cây như cây rừng, cây ăn quả, cây dược liệu. Là phương pháp có hệ số nhân giống cao, phù hợp với quy mô lớn và sản phẩm cuối cùng cho 1 số lượng cây giống đồng đều về mặt chất lượng di truyền. Cây Sơn Đậu Căn là loài cây sinh trưởng tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện tự nhiên.
Cây có ý nghĩa rất lớn trong môi trường và trong y học vì vậy việc nghiên cứu nhân giống cho cây Sơn Đậu Căn bằng phương pháp nào để cây ra rễ phát triển tốt là điều cần thiết. Giâm hom duy trì được tính trạng của cây mẹ, giâm hom là dùng một đoạn ngọn, thân hoặc rễ để tạo ra cây mới, gọi là cây hom. Kết quả của giâm hom phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cách chăm sóc,…Ngoài ra còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như giá thể , điều kiện ngoại cảnh, chất kích thích…, nhưng sử dụng loại thuốc nào, nồng độ bao nhiêu thời gian bao nhiêu thích hợp với khả năng ra rễ của cây lại là một vấn đề cần được nghiên cứu. Xuất phát từ nhu cầu thực tế phát triển cây Sơn Đậu Căn cùng công tác nghiên cứu em thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến chất lượng cây giống Sơn Đậu trong giai đoạn vườn ươm”.
Mục đích và mục tiêu của đề tài 1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của chất NAA đến khả năng sinh trưởng của hom cây Sơn Đậu Căn trong giai đoạn vườn ươm. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được nồng độ và thời gian phù hợp nhất cho khả năng ra rễ, ra mầm của cành giâm Sơn Đậu Căn trong giai đoạn vườn ươm. Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học Vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực hành, giúp sinh viên làm quen với điều kiện thực tế, rèn luyện kĩ năng thực hành, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo để chọn lọc và xây dựng quy trình kĩ thuật, góp phần bổ sung thêm tài liệu khoa học cho quá trình nghiên cứu về cây Sơn Đậu Căn ở nước ta. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn cho công tác nhân giống loài cây Sơn Đậu Căn bằng hom trên địa bàn Phia Đén nói riêng và Cao Bằng nói chung cùng với một số nơi tương tự. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 2.
Cơ sở khoa học 2. Cơ sở khoa học về cây Sơn Đậu Căn Cây dược liệu nói chung và cây Sơn Đậu Căn nói riêng là một trong những cây có những nhu cầu nhất định về môi trường và dinh dưỡng, do có tính đa dạng về điều kiện sinh thái khí hậu của các mùa trong năm làm cho cây ngừng sinh trưởng phát triển trong một thời gian nhất định, Việc trồng cây Sơn Đậu phải phù hợp với điều kiện khí hậu thời tiết, đất đai, giống và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt. Cơ sở khoa học về giâm hom Cơ sở khoa học của việc giâm hom là dựa trên khả năng tái sinh, hiện tượng cực tính và đa cực tính độc lập của tế bào. Từ các bộ phận của cây hay một tế bào nhỏ bé trong các mô cũng có thể tái phân sinh tế bào để tạo nên một cơ thể mới hoàn chỉnh.
Đó chính là điểm khác biệt giữa nhân giống vô tính và nhân giống hữu tính. Trong các biện pháp sinh sản vô tính, giâm hom là hình thức phổ biến nhất và là một trong những công cụ có hiệu quả cho việc lưu giữ, bảo vệ và duy trì giống cây rừng. Bởi chúng có đặc điểm: Giâm hom có thể dùng hom thân, hom cành, hom rễ toàn những nguyên liệu có sẵn, dễ làm, dễ thao tác. Nhân giống bằng hom cho hệ số nhân giống lớn, nên được sử dụng phổ biến cho nhân giống cây rừng, cây dược liệu, cây ăn quả.
Đối với phương pháp giâm hom thì dễ dang thực hiện, ít tốn kém đầu tư, dễ dàng mở rộng và chuyển giao công nghệ cho các cơ sở sản xuất. Các n 5 phương pháp chủ yếu là từ cành hoặc chồi được cắt thành từng đoạn dài 10 – 15cm, nhúng vào thuốc và cắm vào giá thể bằng cát hoặc túi bầu. Hom được phun mù theo định kỳ để giữ ẩm cho hom giâm không bị quá khô hay quá ẩm. Kết quả của hom giâm được xác định bởi thời gian ngắn và tỷ lệ ra rễ cao.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom, nhưng phụ thuộc bởi ba yếu tố chính là: khả năng ra rễ của hom giâm (cá thể, giai đoạn và vị trí của hom), môi trường giâm hom và các chất kích thích ra rễ. Giâm hom là công việc áp dụng và đã thu được những kết quả bước đầu, có thể đưa vào sản xuất đại trà cho một số đối tượng cây trồng chính phục vụ bảo tồn và chọn giống. Cơ sở khoa học về chất kích thích sinh trưởng Những hóa chất có khả năng điều khiển được sinh trưởng và phát dục của cây trồng được gọi là chất kích thích sinh trưởng hay chất điều hòa sinh trưởng. Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến sự ra rễ của hom giâm được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu.
Như chúng ta đã biết, trong cây trồng luôn tiềm ẩn các chất kích thích giúp cây trồng có thể sinh trưởng và kích thích khả năng sinh trưởng song nếu chúng ta muốn tăng hàm lượng các chất kích thích thì có thể nhúng ngập vết cắt hom giâm. Do vậy bằng con đường tổng hợp con người đã sản xuất ra rất nhiều chất có tính chất sinh lý có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cành giâm. Trong các thập kỷ 30 và 40 các nhà khoa học đã lần lượt tổng hợp ra : Auxin, IAA, IBA, NAA. - Chất điều hòa sinh trưởng NAA là chất điều tiết sinh trưởng thực vật có tác dụng rộng, kích thích sinh trưởng của cây, tăng chiều cao, tăng sinh khối và tăng năng suất cây trồng, thúc đẩy sự phân bào và hình thành rễ nhánh, rễ lá của cành giâm, cành chiết, dùng để tăng tốc độ giâm trồng.
Cơ sở thực tiễn Xác định được nồng độ và thời gian của chất kích thích sinh trưởng phù hợp với hom giâm cây Sơn Đậu Căn n 6 2. Nguồn gốc phân bố Cây Sơn Đậu lần đầu tiên được ghi nhận trong Kaibao Bencao vào năm 973 trước công nguyên (973 AD) [25]. Theo Gana (1870) [15]; Palmer (1870) [19]; Pinnart (1877) [20], Sơn Đậu Căn mọc tự nhiên ở bên trong và sườn của núi lửa Rano Kao. Theo Rodriguez et.
(1983) [21]; Skottsberg (1920) [23], Sơn Đậu Căn mọc tự nhiên ở vùng núi cao và một số đảo. Cây Sơn Đậu là cây có nguồn gốc nhiệt đới nóng ẩm, sơn đậu căn mọc hoang dại đã được tìm thấy ở Nam Trung Hoa và các tỉnh miền Bắc ở nước ta. Tại Trung Quốc, thông tin về trồng Sơn Đậu trên vùng đồi núi đất, núi đá vôi (nguyên sản của Sophora tonkinensis là Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc) [28]. Sơn Đậu là loài quý hiếm, phân bố hẹp, trữ lượng không đáng kể, lại thường bị chặt phá bừa bãi, nên Sơn đậu Căn có tên trong sách đỏ Việt Nam [28].
Phân bố ở Việt nam: Cao Bằng, Hà Giang( Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ); Quảng Ninh( các đảo thuộc Vịnh Hạ Long); Ninh Bình( Nho quan); Đà Nẵng(Sơn trà)…[28]. Phân bố ở Trung Quốc: Quảng tây (từ Tây nam sang Tây bắc), tỉnh Quý Châu và vùng Đông nam của tỉnh Vân nam, các khu vực có vị trí 22°21'~26°6' độ vĩ Bắc, 103°20'~108°45' độ kinh Đông [28]. Giá trị sử dụng của cây Sơn Đậu Căn Sơn Đậu Căn bộ phận dùng là rễ cây Sơn Đậu, hay còn gọi là Quảng Đậu, Khổ Đậu. Vào mùa thu, người ta thu hoạch rễ, rửa sạch, phơi sấy khô.
Trước khi dùng đem cắt đoạn 3 – 5 cm, sao vàng. Theo y học cổ truyền, sơn đậu có vị đắng, tính hàn, phế vị, đại tràng.