CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 1.1 Nghiên cứu nước ngoài Robert Kaplan và David Norton vào năm 1992 đã giới thiệu bảng điểm cân bằng - BSC trong một bài báo đựơc đăng trên tạp chí Harvard Business Review. Trải qua 25 năm nghiên cứu và phát triển, đã có rất nhiều bài viết về BSC với nhiều phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật phân tích khác nhau. BSC đã được mô tả bằng nhiều cách khác nhau. Một số tác giả khi thảo luận về BSC đề cập đến nó như một hệ thống quản lý hiệu quả (Performance Management System), một hệ thống thông tin quản lý (Management Information System), một hệ thống quản lý chiến lược (Strategic Management System) hoặc một hệ thống kiểm soát quản lý (Management Control System).
Các yếu tố thúc đẩy việc vận dụng các hệ thống như vậy ở các tổ chức và mức độ sử dụng cá nhân của người quản lý là khác nhau. Các yếu tố như quy mô DN, thị phần và doanh thu cao có liên quan đến việc áp dụng các hệ thống như vậy (Wu và các cộng sự, 2008). Cụ thể, dựa trên một khảo sát đối với 66 DN sản xuất ở Úc, Hoque và James (2000), cho rằng những DN có quy mô lớn h ơ n vận dụng BSC nhiều hơn. Ngoài ra, DN có tỉ lệ các sản phẩm mới cao hơn có xu hướng dùng nhiều thước đo liên quan hơn.
Mô hình nghiên cứu của Hoque và James (2000) (Nguồn: Tác giả tổng hợp) 5 Islam và cộng sự (2014) dựa vào lý thuyết của mô hình chấp nhận công nghệ (TAM - Technology Acceptance Model), tác giả đưa ra 3 nhân tố tác động đến việc vận dụng BSC là: (1) nhận thức về khả năng của BSC, (2) nhận thức về tính dễ sử dụng và (3) nhận thức về sự hữu ích của BSC. Kết quả cho thấy cả 3 nhân tố đều ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC. Trong đó, nhận thức về khả năng của BSC tác động mạnh nhất, nhận thức về tính dễ sử dụng của BSC có mức ảnh hưởng cao thứ hai và nhận thức về sự hữu ích có mức ảnh hưởng cao thứ ba. Điều đó cho thấy, khi quyết định sử dụng BSC thì người ta xem xét khả năng của BSC đầu tiên, sau đó xem xét xem BSC có dễ sử dụng hay không và cuối cùng là xem xét BSC hữu ích như thế nào.
Theo Carol Chepng’eno Koske and Willy Muturi (2015) đã nhận diện và định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC trong các tổ chức phi chính phủ tại Kenya. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua bảng khảo sát để thu thập dữ liệu. Tác giả đã đưa ra 4 yếu tố tác động đến việc vận dụng BSC trong các tổ chức phi chính phủ là: quy mô công ty, nhận thức về lợi ích của BSC, chi phí tổ chức BSC và tính dễ sử dụng của BSC. Kết quả cho thấy tất cả các nhân tố nêu trên đều ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC.
Mô hình nghiên cứu của Carol Chepng’eno Koske and Willy Muturi (2015) (Nguồn: Tác giả tổng hợp) 6 Hai biến nhận thức lợi ích và nhận thức tính dễ sử dụng cũng được các tác giả Eric Tanyi (2011), Wang Rui và Gu Hongfei (2016) đưa vào mô hình nghiên cứu. Tuy nhiên, những tác giả này nghiêng về yếu tố tác động đến quyết định của những nhà quản trị DN trong việc vận dụng BSC. Patrícia Rodrigues Quesado và các cộng sự (2016) phân tích mối quan hệ giữa một bộ các yếu tố bên ngoài và bên trong một tổ chức với việc vận dụng BSC trong các DN tư nhân ở Bồ Đào Nha (các tập đoàn lớn và các DN nhỏ và vừa). Những yếu tố này liên quan đến tuổi đời, sự đa dạng sản phẩm và dịch vụ, cơ cấu sở hữu, loại hình kiểm soát và quy mô của DN.
Kết luận rằng việc vận dụng BSC tỉ lệ thuận với mức độ đa dạng của sản phẩm/ dịch vụ, các DN tại Bồ Đào Nha sử dụng BSC chủ yếu là do các nhóm nước ngoài sở hữu; và các DN có quy mô lớn hơn có nhiều khả năng sử dụng công cụ này. Nghiên cứu cũng có giới hạn là mẫu nghiên cứu nhỏ nên chưa mang tính khái quát cao, và việc gửi bảng câu hỏi qua đường bưu điện không mang lại hiệu quả như mong đợi. Mô hình nghiên cứu của Patrícia Rodrigues Quesado và các cộng sự (2016) (Nguồn: Tác giả tổng hợp) 7 1.2 Nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, khi bàn về BSC tác giả nhận thấy các nghiên cứu trước chủ yếu nghiên cứu việc ứng dụng triển khai BSC tại một tổ chức cụ thể, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: DN, trường học,bệnh viện, ngân hàng,… Các nghiên cứu tìm hiểu các về yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC còn tuơng đối ít, vì vậy, ngoài các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC nói riêng, tác giả sẽ xem xét trên phương diện rộng hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị nói chung. Cụ thể: Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2013) sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính: nghiên cứu tài liệu, khảo sát, phỏng vấn,….
đã tổng kết các nghiên cứu và nêu ra những điểm lý thuyết cơ bản về BSC. Trong số 20 DN khảo sát được chia làm 3 loại: DN đã vận dụng BSC, DN dự định vận dụng BSC và DN chưa sử dụng BSC. Qua đó, tác giả nêu được thực trạng sử dụng BSC ở một số DN từ đó nêu ra những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng BSC. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng BSC mà tác giải đã xác định trong bài nghiên cứu là: quy mô công ty, nhận thức BSC khó sử dụng, chiến lược DN và văn hóa công ty.
Dựa vào thực trạng vận dụng BSC trong các DN Việt Nam, tác giả cũng đã đưa ra các giải pháp, kiến nghị giúp việc vận dụng BSC được hiệu quả và rộng rãi hơn. Phạm Thị Ngọc Yến (2015) nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng, sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính như: thu thập dữ liệu, so sánh, đánh giá,… Bài viết này đã tổng kết các lý thuyết cơ bản về BSC cũng như quy trình vận hành và tiếp cận cộng cụ BSC trong một tổ chức. Đồng thời tác giả đã đưa ra được những vấn đề về thực trạng đo lường, đánh giá thành quả hoạt động tại ngân hàng TMCP An Bình. Từ những vấn đề nhận thấy, tác giả đã phân tích, suy luận và đưa ra một số giải pháp để hỗ trợ việc đánh giá thành quả hoạt động thông qua BSC tại ngân hàng TMCP An Bình.
Nguyễn Thị Diễm Trang (2016) sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính như phân tích, so sánh, quan sát, phỏng vấn trực tiếp. Tác giả đã nêu được cơ sở lý thuyết về BSC trong các tổ chức giáo dục đại học phi lợi nhuận, phân tích và đánh giá thực trạng công tác đo lường thành quả chiến lược tại trường đại học 8 Bạc Liêu. Từ lý thuyết và thực tế, tác giả tiến hành xác định mục tiêu cho bản đồ chiến lược và các thước đo cho BSC. Cuối cùng, dựa vào tầm nhìn, sứ mạng và chiến lược của trường đại học Bạc Liêu để xây dựng bảng điểm cân bằng phù hợp.
Đặc biệt, không những xây dựng BSC ở cấp độ toàn trường mà nghiên cứu còn phân tầng BSC đến một số phòng, khoa của trường đại học Bạc Liêu. Một số nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng công nghệ là yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng thành công BSC (Hoàng Kim Dung, 2015.; Võ Thị Thu Hương, 2012; Phạm Hùng Cường và Bùi Văn Minh, 2014). Với sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông tin hiện đại với các phần mềm ứng dụng hiện đại sẽ giúp việc theo dõi đánh giá thuận tiện, chính xác và kịp thời… là một thuận lợi rất lớn trong việc đưa BSC dễ dàng tiếp cận cũng như hỗ trợ xây dựng mô hình phù hợp với từng DN. Ngoài ra tác giả Võ Thị Thu Hương còn kết luận rằng “nếu DN không đáp ứng được điều kiện về nguồn lực con người và khả năng tài chính để thực hiện những tham vọng đã được xây dựng, triển khai BSC chỉ dừng lại trên lý thuyết”.
Như vậy, ý tác giả là trình độ chuyên môn của nhân sự DN và quy mô DN về tiềm lực tài chính có mối quan hệ tỉ lệ thuận với việc vận dụng thành công BSC. Nguyễn Quốc Việt (2011) cũng cho rằng đội ngũ nhân viên trẻ hóa với trình độ chuyên môn cao là một trong những yếu tố ảnh hưởng tích cực và thuận lợi đến việc xây dựng và áp dụng BSC tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Đà Nẵng. Trịnh Thùy Anh (2014) đã xác định các yếu tố mang lại sự thành công trong quá trình triển khai áp dụng BSC trong các DN Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính.
Nghiên cứu tình huống tại 6 DN đã áp dụng BSC cho thấy nhận thức về thẻ điểm, thiết kế thẻ điểm, năng lực nguồn nhân lực và cách thức tổ chức thực hiện là các yếu tố tác động đến việc triển khai áp dụng BSC thành công trong các DN. Tác giả kết luận lãnh đạo các DN Việt Nam cần quan tâm đến các yếu tố này để có thể triển khai áp dụng thành công BSC. 9 Bùi Thị Hải Vân (2009) đã thu thập được 163 phiếu trả lời của các DN nhỏ và vừa ở TP HCM. Bằng phương pháp phân tích định lượng, tác giả đã chỉ ra ba yếu tố (1) nhận thức lợi ích về phía tổ chức, (2) nhận thức tính dễ sử dụng và (3) thái độ chung có ảnh hưởng tích cực đến dự định sử dụng BSC.
Tác giả cũng đã loại trừ yếu tố nhận thức về lợi ích cá nhân. Trần Ngọc Hùng (2016) đã nghiên cứu về “Các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các DN nhỏ và vừa tại Việt Nam”. Luận án đã tìm ra được các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong các DN nhỏ và vừa tại Việt Nam và tiến hành đo lường mức đô â tác đô âng của các nhân tố tác đô âng đến viê âc vâ ân dụng KTQT trong các DN nhỏ và vừa tại Viê ât Nam bằng các phương pháp định tính và định lượng. Sau đó, tác giả cũng đề xuất được các giải pháp, kiến nghị nhằm làm gia tăng tính khả thi của viê âc vâ ân dụng KTQT trong các DN nhỏ và vừa tại Viê ât Nam.