Nghiên Cứu Ẩn Dụ Trong Diễn Ngôn Chính Trị: So Sánh Giữa Tiếng Việt và Tiếng Anh

Khám phá ẩn dụ cấu trúc trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh qua bình luận quốc tế của báo Nhân Dân và The New York Times.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ
302
2
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm

1.1.1.1. Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng truyền thống

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.1. Mục đích nghiên cứu

1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3.2. Ngữ liệu nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.4.1. Phương pháp định lượng và định tính

1.4.2. Phương pháp miêu tả

1.4.3. Phương pháp phân tích diễn ngôn

1.4.4. Cách tiếp cận liên ngành

1.4.5. Phương pháp so sánh đối chiếu

1.5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

1.6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

1.6.1. Về mặt lí luận

1.6.2. Về mặt thực tiễn

1.7. Cấu trúc của luận án

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC CÓ MIỀN ĐÍCH “CHÍNH TRỊ” TRONG DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

2.1. Ẩn dụ cấu trúc “CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH”

2.1.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

2.1.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

2.1.3. So sánh, đối chiếu ẩn dụ cấu trúc "CHÍNH TRỊ LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH" trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh

2.2. Ẩn dụ cấu trúc “CHÍNH TRỊ LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG”

2.2.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

2.2.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

2.2.3. So sánh, đối chiếu ẩn dụ cấu trúc "CHÍNH TRỊ LÀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG" trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh

2.3. Ẩn dụ cấu trúc “CHÍNH TRỊ LÀ CHIẾN TRANH”

2.3.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

2.3.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

2.3.3. So sánh, đối chiếu ẩn dụ cấu trúc "CHÍNH TRỊ LÀ CHIẾN TRANH" trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh

2.4. Ẩn dụ cấu trúc “CHÍNH TRỊ LÀ NHIỆT”

2.4.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

2.4.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

2.4.3. So sánh, đối chiếu ẩn dụ cấu trúc "CHÍNH TRỊ LÀ NHIỆT" trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh

2.5. Phân tích ẩn dụ cấu trúc “CHÍNH TRỊ LÀ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT/ TỰ NHIÊN”

2.5.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

2.5.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

2.5.3. So sánh, đối chiếu ẩn dụ cấu trúc "CHÍNH TRỊ LÀ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT/TỰ NHIÊN" trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh

3. CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC CÓ MIỀN ĐÍCH “QUỐC GIA” TRONG DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

3.1. Ẩn dụ cấu trúc “QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI”

3.1.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

3.1.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

3.1.3. So sánh, đối chiếu ẩn dụ cấu trúc "QUỐC GIA LÀ MỘT CON NGƯỜI" trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh

3.2. Ẩn dụ cấu trúc “ĐẶC ĐIỂM CỦA QUỐC GIA LÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI”

3.2.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

3.2.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

3.2.3. So sánh ẩn dụ cấu trúc "ĐẶC ĐIỂM CỦA QUỐC GIA LÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI" trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt

3.3. Ẩn dụ cấu trúc “HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC GIA LÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI”

3.3.1. Phân tích trên cứ liệu tiếng Việt

3.3.2. Phân tích trên cứ liệu tiếng Anh

3.3.3. So sánh ẩn dụ cấu trúc "HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC GIA LÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI" trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Ẩn Dụ Chính Trị Tiếng Việt Anh

Nghiên cứu ẩn dụ chính trị ngày càng phát triển, đặc biệt trong bối cảnh ngôn ngữ học tri nhận. Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng thông qua ẩn dụ, tư tưởng, hệ giá trị và đặc điểm văn hóa được biểu hiện một cách rõ ràng. Diễn ngôn chính trị là một loại diễn ngôn đề cập đến các vấn đề quản lý xã hội, thể hiện mối quan tâm của con người đối với các vấn đề quản lý nhà nước, có sự liên kết chặt chẽ giữa diễn ngôn và hành động. Diễn ngôn chính trị tác động, giúp người đọc thấy ra vấn đề, hiểu vấn đề, suy nghĩ về vấn đề đó và có những hành động, ứng xử phù hợp. Vì vậy chủ thể sử dụng diễn ngôn rất đa dạng từ các chính trị gia, nhà tư bản đến đông đảo người dân. Các chính trị gia sử dụng diễn ngôn chính trị nhằm xây dựng hình ảnh bản thân, truyền đạt những quan điểm chính trị, cam kết hành động và xác lập uy tín cá nhân.

1.1. Nghiên Cứu Ẩn Dụ Ý Niệm Tổng Quan Tình Hình Hiện Tại

Trong giai đoạn tiền tri nhận, ẩn dụ được hiểu là một sự so sánh ngầm giữa hai sự vật, hiện tượng. Xét về mặt định nghĩa, theo từ điển Dictionary of Language Teaching & Applied Linguistics (Richards và cộng sự, 1992) ẩn dụ mô tả một sự vật, hiện tượng bằng cách nói đến một sự vật hiện tượng khác có thể đem ra so sánh với nó. Theo từ điển Oxford Advance Learner‘s Dictionary (Hobby, 2005), ẩn dụ là hiện tượng một từ ngữ được dùng để mô tả, sự vật hiện tượng theo một cách khác so với các dùng thông thường của nó, nhằm cho thấy những đặc điểm tương đồng hoặc liên kết về ý nghĩa của hai sự vật hiện tượng, từ đó nhấn mạnh sự mô tả độc đáo riêng biệt của biểu thức ẩn dụ.

1.2. Phân Tích Diễn Ngôn Chính Trị Vai Trò Của Ẩn Dụ

Diễn ngôn chính trị là một loại diễn ngôn đề cập đến các vấn đề quản lý xã hội, thể hiện mối quan tâm của con người đối với các vấn đề quản lý nhà nước, có sự liên kết một cách chặt chẽ giữa diễn ngôn và hành động. Diễn ngôn chính trị tác động, giúp người đọc thấy ra vấn đề, hiểu vấn đề, suy nghĩ về vấn đề đó và có những hành động, ứng xử phù hợp. Vì vậy chủ thể sử dụng diễn ngôn rất đa dạng từ các chính trị gia, nhà tư bản đến đông đảo người dân. Các chính trị gia sử dụng diễn ngôn chính trị nhằm xây dựng hình ảnh bản thân, truyền đạt những quan điểm chính trị, cam kết hành động và xác lập uy tín cá nhân.

II. Thách Thức Nghiên Cứu Ẩn Dụ So Sánh Ngôn Ngữ Chính Trị

Mặc dù có vai trò quan trọng, trong ngôn ngữ học tri nhận, các diễn ngôn chính trị chưa thực sự được quan tâm và tìm hiểu tương xứng với tầm quan trọng của nó. Nghiên cứu trên báo Nhân dân điện tử và The New York Times cho thấy nhiều ẩn dụ ý niệm thông qua các diễn ngôn bình luận chính trị. Đặc trưng của thể loại này là có sự chặt chẽ và logic cao trong lập luận. Trong đó, cái ngầm ẩn tạo nên logic là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, liên quan đến sự tri nhận của con người đối với các hiện tượng chính trị - xã hội của đất nước. Cần có phương pháp tiếp cận liên ngành để làm sáng tỏ đặc điểm của các ẩn dụ cấu trúc trong diễn ngôn chính trị.

2.1. Hạn Chế Trong Nghiên Cứu Diễn Ngôn Chính Trị Hiện Nay

Dù có vai trò quan trọng như vậy, nhưng trong ngôn ngữ học tri nhận thì các diễn ngôn chính trị chưa thật sự được quan tâm và tìm hiểu tương xứng với tầm quan trọng của nó. Thực tiễn nghiên cứu, thu thập cứ liệu, chúng tôi nhận thấy báo Nhân dân điện tử là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, có tính định hướng chính trị cao, ngôn ngữ sử dụng mang tính chính luận của Đảng và nhà nước. The New York Times cũng là một trong những tờ báo có lượng truy cập lớn nhất tại Mỹ.

2.2. Yêu Cầu Tiếp Cận Liên Ngành Trong Nghiên Cứu Ẩn Dụ

Luận án chú ý đến tương tác của ngữ cảnh, vai trò của người sử dụng trong môi trường tri nhận, đặc biệt là vận dụng các thủ pháp phân tích của lý thuyết quan yếu (relevance theory). Cách tiếp cận liên ngành: Luận án sử dụng kiến thức từ nhiều ngành khoa học kết hợp giữa tri thức liên ngành và tri thức ngôn ngữ học nhằm sáng tỏ đặc điểm của các ẩn dụ cấu trúc trong diễn ngôn chính trị, từ đó tìm hiểu yếu tố đặc trưng văn hoá dân tộc, bối cảnh văn hoá xã hội góp phần giải thích các điểm tương đồng và dị biệt của các biểu thức ẩn dụ cấu trúc trong tiếng Anh và tiếng Việt.

III. Phương Pháp Phân Tích Ẩn Dụ So Sánh Tiếng Việt và Tiếng Anh

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính. Nghiên cứu định lượng cho phép thiết lập sự so sánh trực tiếp các kết quả tìm được giữa hai khối ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh, trong so sánh các số lượng các miền nguồn, tần số sử dụng. Nghiên cứu định tính được sử dụng để nghiên cứu chi tiết hơn, sâu hơn các ẩn dụ cấu trúc tìm được trong hai khối ngữ liệu, cách sử dụng các biểu thức ẩn dụ và làm sáng tỏ cách tri nhận của người Anh và người Việt thể hiện trong các diễn ngôn chính trị, từ đó tìm ra nét tương đồng, dị biệt giữa hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh.

3.1. Nghiên Cứu Định Lượng Thống Kê và So Sánh Tần Suất

Nghiên cứu định lượng cho phép luận án thiết lập sự so sánh trực tiếp các kết quả tìm được giữa hai khối ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh, trong so sánh các số lượng các miền nguồn, tần số sử dụng. Thủ pháp thống kê, phân loại: cho phép tập hợp, phân loại và thống kê các loại ẩn dụ cấu trúc thu thập được trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh. Các số liệu thống kê cho thấy mức độ thông dụng của các ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị, và là cơ sở để đối chiếu về mặt định lượng giữa tiếng Việt và tiếng Anh.

3.2. Nghiên Cứu Định Tính Phân Tích Chi Tiết Biểu Thức Ẩn Dụ

Nghiên cứu định tính được sử dụng để nghiên cứu chi tiết hơn, sâu hơn các ẩn dụ cấu trúc tìm được trong hai khối ngữ liệu, cách sử dụng các biểu thức ẩn dụ và làm sáng tỏ cách tri nhận của người Anh và người Việt thể hiện trong các diễn ngôn chính trị, từ đó tìm ra nét tương đồng, dị biệt giữa hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh. Phương pháp miêu tả: được áp dụng trong việc thu thập, nhận diện cũng như phân loại các ẩn dụ cấu trúc trong khối liệu nghiên cứu, thủ pháp phân tích diễn ngôn cũng được sử dụng để hỗ trợ cho phương pháp này nhằm phân tích rõ hơn các ẩn dụ cấu trúc tìm thấy trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh.

IV. Ứng Dụng Nghiên Cứu Phân Tích Ẩn Dụ Chính Trị Quốc Gia

Luận án tập trung nghiên cứu ẩn dụ cấu trúc có miền đích Chính trị và Quốc gia trong các diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh. Trong thời gian 03 năm, đã có tổng số 4971 lượt xuất hiện ẩn dụ cấu trúc trong 02 miền đích là Chính trị và Quốc gia, trong đó miền đích Chính trị có lượt ẩn dụ cấu trúc xuất hiện là 2145, và miền đích Quốc gia có lượt ẩn dụ cấu trúc xuất hiện là 2826. Các biểu thức ngôn ngữ trong tiếng Anh được chúng tôi sử dụng trong luận án được lấy nguyên gốc từ các bài viết diễn ngôn chính trị tiếng Anh trong mục Opinion của The New York Times, không có phần dịch sang tiếng Việt nên phần dịch được chú trong ngoặc đơn ở chương 2, chương 3 là của tác giả tự dịch ra dựa trên ngữ cảnh của toàn văn bản.

4.1. Phân Tích Ẩn Dụ Cấu Trúc Miền Đích Chính Trị trong Diễn Ngôn

Chương 2: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích “Chính trị” trong diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt, tập trung phân tích các ẩn dụ cấu trúc có miền đích “Chính trị”, đồng thời đưa ra các biểu thức ẩn dụ cấu trúc phổ biến trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh.

4.2. Phân Tích Ẩn Dụ Cấu Trúc Miền Đích Quốc Gia trong Diễn Ngôn

Chương 3: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích “Quốc gia” trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh, tập trung nghiên cứu những nội dung liên quan đến những ẩn dụ cấu trúc có miền đích “Quốc gia”, đồng thời đưa ra các biểu thức ẩn dụ cấu trúc phổ biến trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh.

V. Đóng Góp Mới Hệ Thống Hóa Lý Thuyết Ẩn Dụ Chính Trị

Luận án hệ thống có chọn lọc các khái niệm cốt yếu về ngôn ngữ học tri nhậnẩn dụ ý niệm. Kế thừa cơ sở lí luận từ những nghiên cứu đi trước, thông qua việc nghiên cứu các ẩn dụ cấu trúc có miền đích là CHÍNH TRỊ và QUỐC GIA trong diễn ngôn chính trị được tìm thấy trong ngữ liệu của hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, bao gồm các ẩn dụ thượng danh và hạ danh đã được sử dụng, tần suất xuất hiện, luận án góp phần bổ sung và làm rõ thêm những điểm tương đồng và dị biệt trong cách tri nhận về diễn ngôn chính trị giữa cộng đồng người nói tiếng Việt và tiếng Anh thông qua hệ thống ẩn dụ ý niệm, từ đó có những đóng góp nhất định vào kho lí luận của ẩn dụ ý niệm nói chung và ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị nói riêng.

5.1. Bổ Sung Lý Thuyết Ngôn Ngữ Học Tri Nhận và Ẩn Dụ Ý Niệm

Luận án hệ thống có chọn lọc các khái niệm cốt yếu về ngôn ngữ học tri nhậnẩn dụ ý niệm. Kế thừa cơ sở lí luận từ những nghiên cứu đi trước, thông qua việc nghiên cứu các ẩn dụ cấu trúc có miền đích là CHÍNH TRỊ và QUỐC GIA trong diễn ngôn chính trị được tìm thấy trong ngữ liệu của hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, bao gồm các ẩn dụ thượng danh và hạ danh đã được sử dụng, tần suất xuất hiện, luận án góp phần bổ sung và làm rõ thêm những điểm tương đồng và dị biệt trong cách tri nhận về diễn ngôn chính trị giữa cộng đồng người nói tiếng Việt và tiếng Anh thông qua hệ thống ẩn dụ ý niệm.

5.2. Đóng Góp Vào Nghiên Cứu Ẩn Dụ Ý Niệm Trong Diễn Ngôn Chính Trị

Từ đó có những đóng góp nhất định vào kho lí luận của ẩn dụ ý niệm nói chung và ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị nói riêng. Luận án cũng tiếp tục khẳng định vai trò tri nhận và giao tiếp của ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị, và minh hoạ cho tính đa dạng văn hoá của ẩn dụ ý niệm. Đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống các ẩn dụ ý niệm đối với thể loại bài viết diễn ngôn chính trị, nêu rõ những đặc trưng cơ bản xuất hiện trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh, đồng thời tìm ra mối quan hệ giữa ẩn dụ, diễn ngôn chính trị và bối cảnh lịch sử đi kèm.

VI. Ý Nghĩa Thực Tiễn Giảng Dạy Ngôn Ngữ và Diễn Ngôn Chính Trị

Những kết quả thu được của luận án sẽ giúp những nhà ngôn ngữ học hiểu sâu hơn về ẩn dụ ý niệm dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận trong văn cảnh là các diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh. Thông qua phân tích và so sánh các mô hình ẩn dụ và ánh xạ của ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị của hai ngôn ngữ, kết quả của luận án được kỳ vọng sẽ mở ra nhiều cách tiếp cận mới trong việc giảng dạy ngôn ngữ cũng như giảng dạy các lĩnh vực có liên quan khác tại Việt Nam; đóng góp cho các nhà giảng dạy ngoại ngữ, biên phiên dịch, đặc biệt là trong lĩnh vực tiếng Anh chuyên ngành nói chung và diễn ngôn chính trị nói riêng.

6.1. Ứng Dụng Trong Giảng Dạy Ngôn Ngữ Học và Tri Nhận

Những kết quả thu được của luận án sẽ giúp những nhà ngôn ngữ học hiểu sâu hơn về ẩn dụ ý niệm dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận trong văn cảnh là các diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh. Thông qua phân tích và so sánh các mô hình ẩn dụ và ánh xạ của ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị của hai ngôn ngữ, kết quả của luận án được kỳ vọng sẽ mở ra nhiều cách tiếp cận mới trong việc giảng dạy ngôn ngữ cũng như giảng dạy các lĩnh vực có liên quan khác tại Việt Nam.

6.2. Hỗ Trợ Giảng Dạy Tiếng Anh Chuyên Ngành và Diễn Ngôn Chính Trị

Đóng góp cho các nhà giảng dạy ngoại ngữ, biên phiên dịch, đặc biệt là trong lĩnh vực tiếng Anh chuyên ngành nói chung và diễn ngôn chính trị nói riêng. Nó mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về thể loại diễn ngôn chính trị hiện vẫn còn nhiều mảng trống tại Việt Nam.

06/06/2025
Ẩn dụ cấu trúc trong các diễn ngôn chính trị tiếng việt và tiếng anh trong mục bình luận quốc tế của báo nhân dân điện tử và mục opinion của the new york times

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, 3 chƣơng và phần kết luận: Chƣơng 1: Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án. Dựa trên những nghiên cứu đi trƣớc, luận án xác lập khung lý thuyết nghiên cứu ẩn dụ cấu trúc trong tiếng Việt và tiếng Anh làm cơ sở cho việc phân tích ADCT trong DNCT ở chƣơng 2 và 3. Chƣơng 2: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích ―Chính trị‖ trong diễn ngôn chính trị tiếng Anh và tiếng Việt, tập trung phân tích các ẩn dụ cấu trúc có miền đích ―Chính trị‖, đồng thời đƣa ra các biểu thức ẩn dụ cấu trúc phổ biến trong DNCT tiếng Việt và tiếng Anh. Chƣơng 3: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích ―Quốc gia‖ trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và tiếng Anh, tập trung nghiên cứu những nội dung liên quan đến những ẩn dụ cấu trúc có miền đích ―Quốc gia‖, đồng thời đƣa ra các biểu thức ẩn dụ cấu trúc phổ biến trong DNCT tiếng Việt và tiếng Anh.

Phần kết luận: tóm tắt các kết quả của luận án và đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp sau. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm 1.1 Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng truyền thống * Các nghiên cứu ở ngoài nước Trong giai đoạn tiền tri nhận, ẩn dụ đƣợc hiểu là một sự so sánh ngầm giữa hai sự vật, hiện tƣợng.

Xét về mặt định nghĩa, theo từ điển Dictionary of Language Teaching & Applied Linguistics (Richards và cộng sự, 1992) ẩn dụ mô tả một sự vật, hiện tƣợng bằng cách nói đến một sự vật hiện tƣợng khác có thể đem ra so sánh với nó. Theo từ điển Oxford Advance Learner‘s Dictionary (Hobby, 2005), ẩn dụ là hiện tƣợng một từ ngữ đƣợc dùng để mô tả, sự vật hiện tƣợng theo một cách khác so với các dùng thông thƣờng của nó, nhằm cho thấy những đặc điểm tƣơng đồng hoặc liên kết về ý nghĩa của hai sự vật hiện tƣợng, từ đó nhấn mạnh sự mô tả độc đáo riêng biệt của biểu thức ẩn dụ. Bên cạnh những định nghĩa theo các từ điển kể trên thì trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu về ẩn dụ khác. Theo nhận xét của Al-Zoubi, Al-Ali và Al-Hasnawi (2006), ẩn dụ là hiện tƣợng ngôn ngữ phổ biến xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ khác nhau và thể hiện ở nhiều cấp độ về mặt ngôn ngữ.

Lý do cho sự phổ biến này đƣợc các tác giả giải thích là nhờ việc ẩn dụ có khả năng linh hoạt trong biểu thị ý nghĩa, đơn giản hóa các ý niệm, định nghĩa mang tính trừu tƣợng cao [95]. Theo Charteris-Black (2004), bên cạnh những nhận định của Al-Zoubi, Al-Ali và Al-Hasnawi, ông còn nhấn mạnh rằng hiệu quả của ngôn ngữ và giao tiếp đƣợc nhấn mạnh nhờ vào ẩn dụ do có sức nặng thuyết phục đối với lý trí và tình cảm của ngƣời nghe [99]. Có thể thấy rằng việc sử dụng ẩn dụ trong ngôn ngữ hứa hẹn đạt đƣợc hiệu quả tối đa, bởi đó là kết quả của chắt lọc văn hóa đại chúng dựa trên những giá trị văn hóa dân tộc. Ẩn dụ giống nhƣ hình ảnh phản chiếu của nhận thức và hành động 7 của một cộng đồng văn hóa, phản ánh quan điểm và nhận thức của họ đối với thế giới khách quan và đời sống xã hội.

Tuy nhiên với hƣớng nghiên cứu này, nhà nghiên cứu cho rằng ẩn dụ chỉ là vấn đề thuộc về ngôn ngữ và không thuộc các vấn đề về tƣ duy và hành động, thêm vào đó, hƣớng nghiên cứu này cho rằng lối nói ẩn dụ chỉ xuất hiện trong các dạng ngôn ngữ đặc biệt, ví dụ nhƣ trong thi ca và tu từ học (Lakoff (1989)) [126]. Giống với quan điểm của Lakoff, Kövecses (2015) nhận định, tu từ học truyền thống xem xét ẩn dụ dƣới góc độ là một đặc điểm của từ ngữ, đƣợc xuất hiện với mục đích nghệ thuật và không thƣờng xuyên xuất hiện trong giao tiếp hàng ngày [124]. Chính vì lý do này, ẩn dụ đƣợc hiểu là cách nói bóng bẩy xuất phát từ nhu cầu biểu đạt những khái niệm hoặc những ý nghĩa mà ngôn ngữ theo lối thông thƣờng khó biểu đạt. Dựa trên những phân tích trên thì ẩn dụ theo hƣớng nghiên cứu truyền thống là cách nói bóng bẩy với mục đích nghệ thuật bởi ẩn dụ dựa trên khái niệm tƣơng đồng hoặc so sánh giữa việc biểu thị nghĩa hình ảnh của hai sự vật hiện tƣợng.

Chính sự tƣơng đồng này cho phép giải thích sự vật hiện tƣợng theo lối ẩn dụ. * Các nghiên cứu trong nước Theo quan điểm truyền thống, ở Việt Nam, nhiều nhà ngôn ngữ học định nghĩa ẩn dụ dựa trên cơ sở là sự tƣơng đồng. Nguyễn Thiện Giáp (2011) có quan điểm tƣơng tự: ―Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tƣợng đƣợc so sánh với nhau‖ [17]. Từ những năm 1990 cách tiếp cận tri nhận trong nghiên cứu ngôn ngữ đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam.

Năm 1990, Nguyễn Lai nghiên cứu Từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt, phân tích sự phát triển của ngữ nghĩa dựa trên những trải nghiệm của tâm lý và vật lý của các từ chỉ hƣớng ra-vào, lên-xuống, đến-tới, lại- qua, sang-về. Công trình này không dùng thuật ngữ ―ngôn ngữ học tri nhận‖, tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu đây là công trình mang màu sắc tri nhận đầu tiên, mở ra hƣớng nghiên cứu mới cho các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam [44]. Năm 2002, tác giả Nguyễn Đức Tồn đã bƣớc đầu sử dụng thuật ngữ tri giác khi bàn đến ẩn dụ 8 dƣới lăng kính là một kiểu ―tƣ duy phạm trù‖. Đặc biệt, Trần Văn Cơ (2009) với chuyên khảo Khảo luận ẩn dụ tri nhận đã tổng thuật hai công trình kinh điển của Lakoff và Johnson là ―Metaphors We Live by và Women, Fire and the Dangerous Things: What Categories Reveal about the Mind‖ một cách toàn diện, hệ thống các vấn đề cốt lõi về ẩn dụ ý niệm, các khái niệm then chốt đƣợc phân tích, diễn giải tỉ mỉ bằng ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, mở ra hƣớng đi mới cho các nghiên cứu sau này [6].

Tóm lại với hƣớng nghiên cứu truyền thống thì ẩn dụ chỉ đƣợc xem xét nhƣ một hiện tƣợng chuyển nghĩa của từ, có thể chỉ là hiện tƣợng lời nói (ẩn dụ tu từ) hoặc hiện tƣợng ngôn ngữ (ẩn dụ từ vựng) chứ chƣa đƣợc coi là một phƣơng thức tƣ duy nhƣ ngôn ngữ học tri nhận quan niệm sau này. Phần tiếp theo chúng tôi sẽ trình bày riêng về nghiên cứu ẩn dụ theo hƣớng ngôn ngữ học tri nhận. Nghiên cứu ẩn dụ theo hướng ngôn ngữ học tri nhận * Các nghiên cứu ở ngoài nước Ngôn ngữ học tri nhận ra đời dẫn đến những thay đổi khi nghiên cứu về ẩn dụ. Dẫn đầu trong nghiên cứu ẩn dụ theo hƣớng ngôn ngữ tri nhận bắt đầu từ những năm 1980 với những công trình nghiên cứu của những nhà khoa học thế giới nhƣ G.

Grady… Nghiên cứu điển hình nhất và đƣợc coi là thành công nhất đối với nghiên cứu ẩn dụ theo hƣớng ngôn ngữ tri nhận là công trình ―Metaphors We Live By‖ của G. Trong công trình này, Lakoff và Johnson bắt đầu phát triển các khái niệm mới về ẩn dụ ý niệm và bắt đầu liên kết ẩn dụ trong nghiên cứu ngôn ngữ tới những ngành khoa học khác. Lakoff và Johnson cho rằng, ẩn dụ là một quá trình liên quan đến nhận thức hơn là một quá trình ngôn ngữ. Dƣới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ là một phƣơng thức truyền đạt (công cụ) để ý niệm hóa các khái niệm trừu tƣợng hoặc tƣ duy về sự vật; ―hệ thống ý niệm thông thƣờng của chúng ta, dựa vào đó chúng ta vừa suy nghĩ, vừa hành động, về cơ bản mang bản chất ẩn dụ‖.

Ban đầu, xu hƣớng nghiên cứu ẩn dụ theo hƣớng ngôn ngữ tri nhận dựa vào trải nghiệm, tuy nhiên xu hƣớng này đã có những phát triển mới về sau. Lakoff 9 và Johnson cho rằng những ẩn dụ cảm xúc xuất hiện trong ngôn ngữ và xuất phát từ cơ sở văn hóa và sinh học của con ngƣời [130]. Dựa trên nền tảng về ngôn ngữ học tri nhận, Lakoff (1993) tiếp tục phát triển các khái niệm về ẩn dụ, ông phát triển tƣ tƣởng về sự liên hệ giữa quá trình tạo lập hệ thống ý niệm của con ngƣời, cấu trúc của ngôn ngữ tự nhiên và vai trò của ẩn dụ để xây dựng học thuyết về ―tƣ duy nghiệm thân‖ (embodied mind). Học thuyết này nghiên cứu sự liên hệ và phụ thuộc giữa năng lực nhận thức và tƣ duy đến thế giới quan trong đó liên kết với khía cạnh sinh học của con ngƣời: đặc điểm não bộ và cơ thể ngƣời [127].

Việc ứng dụng những thành tựu của các lĩnh vực khoa học khác vào nghiên cứu ẩn dụ đã tạo tiền đề cho việc ứng dụng lý thuyết ẩn dụ vào nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống. Các nghiên cứu cấu trúc của ẩn dụ đã góp phần làm sáng tỏ thêm cách thức con ngƣời tƣ duy ở một số lĩnh vực quan trọng. Xa hơn, đến nghiên cứu của Grady (1997) thì tác giả còn chỉ ra rằng kinh nghiệm hàng ngày, kinh nghiệm cảm giác của con ngƣời là cơ sở đƣa ra các đánh giá chủ quan của nhận thức ngôn ngữ [111, 112]. Về mối quan hệ giữa ẩn dụ trong văn học và trong ngôn ngữ đời thƣờng, Lakoff và Tunner (1989) chứng minh rằng các ẩn dụ văn học đều có cơ sở sâu xa từ các ẩn dụ đời thƣờng và chỉ khi phép ẩn dụ trong thơ ca ổn định thì ẩn dụ đó mới đƣợc tiếp tục sử dụng, nhập vào ngôn ngữ đời thƣờng.

Các ý niệm về đạo đức đƣợc thể hiện một cách rõ ràng trong văn học thông qua các ẩn dụ và thảo luận về ẩn dụ. Qua những thảo luận này những ý niệm hoặc thông điệp đƣợc truyền đạt nhanh và rõ ràng hơn [126]. Trong lĩnh vực pháp luật, chính trị và xã hội, Lakoff và Johnson (1996) đã chứng minh đƣợc rằng: ―Ẩn dụ đóng vai trò then chốt trong kiến tạo thực trạng xã hội và chính trị‖. Trong nghiên cứu của mình, Lakoff và Johnson đã tiến hành nghiên cứu đối tƣợng là thế giới quan của những ngƣời có quan điểm bảo thủ và cấp tiến ở Mỹ.

Ông tiến hành nghiên cứu và xem xét quan điểm về kiểm soát súng đạn, thuế phí, các luật liên quan đến nhân quyền, môi trƣờng và nghệ thuật trong một cấu trúc khung tri nhận nhất định [128].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Ẩn Dụ Trong Diễn Ngôn Chính Trị: So Sánh Tiếng Việt và Tiếng Anh" mang đến cái nhìn sâu sắc về cách thức ẩn dụ được sử dụng trong diễn ngôn chính trị, đặc biệt là sự khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Anh. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về vai trò của ẩn dụ trong việc hình thành ý nghĩa và cảm xúc trong chính trị, mà còn mở rộng kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa của hai ngôn ngữ này.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về các khía cạnh ngôn ngữ học khác, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ tiếng việt, nơi khám phá cách mà ngôn ngữ phản ánh thế giới tự nhiên qua thành ngữ. Bên cạnh đó, tài liệu A study of politeness strategies in request by the characters in the novel harry potter and the chamber of secrets sẽ giúp bạn hiểu thêm về chiến lược lịch sự trong giao tiếp, một khía cạnh quan trọng trong ngôn ngữ học. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn khảo sát thực trạng từ điển đồng nghĩa tiếng việt hiện nay, tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về từ điển đồng nghĩa và cách chúng được sử dụng trong tiếng Việt.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa, từ đó nâng cao khả năng hiểu biết và phân tích ngôn ngữ của bạn.