Mở đầu cho việc hình thành và phát triển của thị trường BĐS phải kể đến việc Luật Đất đai 1993 quy định cho phép người sử dụng đất được chuyển QSDĐ trong DZ0NvHw9LQz9vc31vfSj8CsAmpCZVVgY5agflZyfV5JaUaIfkZ5SogDm5JWoGhQnxgP5YDozr6QoH8G Kz8gsLskvqlQ1yCnOK4k3tLQwMzIwMNAvyI6KBACTfJ9T/, truy cập ngày 07/4/2023. 23 Nguyễn Minh Phong, Chính sách tài khóa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, gắn kết xã hội, https://mof.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?dDocName=MOFUCM186131, truy cập ngày 07/4/2023. 24 Trương Bá Tuấn, Bền vững ngân sách ở Việt Nam: Những vấn đề đặt ra, https://mof.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?dDocName=BTC207088, truy cập ngày 07/4/2023. 25 Trần Linh Phương, tlđd (14), trang 33, 34.
17 một số trường hợp. Đồng thời, Nhà nước cũng ban hành quy định thu thuế đối với người chuyển QSDĐ theo quy định của Luật thuế QSDĐ 1994. Trải qua thời gian dài hình thành và phát triển, hoạt động KDBĐS đã có nhiều biến đổi và các quy định pháp luật về thuế đánh vào hoạt động KDBĐS cũng được Nhà nước kịp thời điều chỉnh để quản lý hiệu quả hoạt động KDBĐS chủ thể. Điều này giúp duy trì và phát triển hoạt động KDBĐS theo hướng bền vững, lành mạnh và góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Thời gian gần đây, khi mà thị trường BĐS có nhiều bất ổn, tình trạng đầu cơ, trốn thuế diễn ra phổ biến thì bên cạnh việc đặt ra các giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho thị trường, hạn chế đầu cơ BĐS, Nhà nước bằng quyền lực công của mình cần đặt ra các giải pháp để tăng cường thu thuế, chống thất thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời giúp thị trường BĐS phát triển bền vững, lành mạnh dựa trên nguyên tắc hoạt động KDBĐS phải phát triển tương ứng với nền kinh tế vĩ mô. Trên cơ sở lý luận về quyền thu thuế theo lãnh thổ của Nhà nước và thực tiễn áp dụng công cụ pháp luật thuế để điều tiết cho sự phát triển của thị trường BĐS, có thể thấy tùy theo hoàn cảnh cụ thể và định hướng phát triển hoạt động KDBĐS trong từng thời kỳ, Nhà nước có thể ban hành các quy định về thuế trong từng sắc thuế tương ứng nhằm khuyến khích hoặc “siết chặt” hoạt động KDBĐS của các chủ thể.2 Sự phát sinh các khoản lợi ích khi chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bất động sản Nếu quyền thu thuế của nhà nước đối với hoạt động KDBĐS tại Việt Nam được xem là điều kiện cần thì điều kiện đủ để làm cơ sở phát sinh nghĩa vụ nộp thuế của chủ thể thực hiện hoạt động KDBĐS là sự phát sinh các khoản lợi ích, cụ thể là giá trị gia tăng của “hàng hóa BĐS” và khoản thu nhập cho chủ thể thực hiện hoạt động KDBĐS. Về mặt nguyên tắc, các hàng hóa, dịch vụ có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam đều là đối tượng chịu thuế GTGT nếu phát sinh GTGT26. BĐS được xem là một dạng hàng hóa đặc biệt để đưa vào kinh doanh, làm phát sinh GTGT từ khâu đầu tư, xây dựng, kinh doanh đến khai thác, sử dụng BĐS.
Hoạt động sử dụng, khai thác BĐS tại Việt Nam có thể hiểu là hoạt động 26 Trường Đại học Luật Tp. HCM, tlđd (13), trang 199. 18 “tiêu dùng hàng hóa đặc biệt” trên lãnh thổ Việt Nam. Tất cả các hoạt động đầu tư, cải tạo, xây dựng và đưa BĐS vào kinh doanh của chủ thể thực hiện hoạt động KDBĐS làm cho giá trị của BĐS tăng lên là tiền đề làm phát sinh thuế GTGT.
Do vậy, xét về mặt lý luận, Nhà nước có cơ sở để điều tiết thuế đối với giá trị tăng lên của hàng hóa BĐS đưa vào kinh doanh, điều này đảm bảo tính công bằng cho chủ thể có hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ khác trong nền kinh tế. Theo đó, Luật thuế GTGT không có quy định loại trừ nghĩa vụ chịu thuế GTGT đối với hoạt động KDBĐS của các tổ chức, cá nhân. Bên cạnh đó, hoạt động KDBĐS tạo ra thu nhập cho chủ thể kinh doanh là tiền đề hình thành nghĩa vụ kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế thu nhập của người nộp thuế. Không phải mọi khoản thu nhập phát sinh đều là đối tượng chịu thuế, mà phải là khoản thu nhập chịu thuế được pháp luật quy định trong từng sắc thuế tương ứng.
Để trở thành thu nhập chịu thuế, đòi hỏi thu nhập có được phải hợp pháp; đồng thời các khoản thu nhập hình thành có tính ổn định, có khả năng tạo ra bình đẳng khi Nhà nước dùng làm cơ sở để Nhà nước điều tiết thuế27. Hoạt động KDBĐS được hình thành và phát triển ngày càng mạnh mẽ dựa trên sự thừa nhận và điều chỉnh của một hệ thống pháp luật chặt chẽ được Nhà nước ban hành. Thu nhập được tạo ra từ hoạt động KDBĐS là một khoản thu nhập tương đối lớn so với các hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ khác, bên cạnh đó nó cũng mang tính ổn định cao. Do vậy, việc điều tiết thuế đối với khoản thu nhập này đảm bảo mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước cũng là công cụ hiệu quả để Nhà nước quản lý, điều tiết, quản lý trật tự trong hoạt động KDBĐS nói riêng và góp phần khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai, thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung, cũng như đảm bảo công bằng xã hội.
Do đó, Nhà nước có cơ sở để điều tiết thuế đối với khoản thu nhập được tạo ra từ hoạt động KDBĐS. Theo đó, Luật thuế TNCN và Luật thuế TNDN quy định một trong các khoản thu nhập chịu thuế là thu nhập có được từ hoạt động KDBĐS của các tổ chức, cá nhân.3 Chủ thể thực hiện nghĩa vụ thuế và các loại nghĩa vụ thuế phát sinh từ hoạt động kinh doanh bất động sản 27 Trường Đại học Luật Tp. HCM, tlđd (13), trang 283.1 Chủ thể thực hiện nghĩa vụ thuế phát sinh từ hoạt động kinh doanh bất động sản Với góc độ tiếp cận nghĩa vụ thuế phát sinh từ hoạt động KDBĐS là “khoản nộp vào ngân sách nhà nước mang tính bắt buộc” như nêu ở phần khái niệm nghĩa vụ thuế phát sinh từ hoạt động KDBĐS, chủ thể thực hiện nghĩa vụ thuế phát sinh từ hoạt động KDBĐS gồm: người chịu thuế (người chi trả tiền thuế) và người nộp thuế28 (chủ thể có nghĩa đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế). Pháp luật thuế hiện hành không quy định người chịu thuế trong từng sắc thuế tương ứng là ai mà chỉ quy định người nộp thuế trong từng sắc thuế khác nhau sẽ là các chủ thể khác nhau.
Theo đó, về mặt lý luận đối với thuế trực thu phát sinh từ hoạt động KDBĐS (trong đó bao gồm: thuế TNCN và thuế TNDN), người nộp thuế cũng đồng thời là người chịu thuế. Đối với thuế gián thu phát sinh từ hoạt động KDBĐS (thuế GTGT), người nộp thuế không đồng thời là người chịu thuế (người chịu thuế là người tiêu dùng, sử dụng hàng hóa, dịch vụ BĐS). Pháp luật thuế quy định trách nhiệm của người nộp thuế là phải thu tiền từ người chịu thuế để nộp vào ngân sách Nhà nước (nếu người chịu thuế không phải là người nộp thuế). Trường hợp người nộp thuế không thực hiện trách nhiệm này, người nộp thuế phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng với Nhà nước, người chịu thuế không phải là chủ thể gánh chịu trách nhiệm liên quan.
Theo quy định pháp luật thuế hiện hành, mỗi sắc thuế khác nhau có nhóm người nộp thuế khác nhau và để trở thành người nộp thuế của một sắc thuế nào đó, chủ thể đó phải có hành vi tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên đối tượng chịu thuế của từng sắc thuế làm phát sinh nghĩa vụ thuế tương ứng. Từ đó, để trở thành người nộp thuế trong hoạt động KDBĐS, trước tiên, chủ thể phải có hoạt động KDBĐS hợp pháp. Cụ thể, các chủ thể này phải là chủ thể đáp ứng điều kiện luật định để được KDBĐS29 (bên cạnh việc BĐS đưa vào kinh doanh phải đáp ứng điều kiện kinh doanh theo quy định pháp luật như đã nêu tại định nghĩa KDBĐS trên đây). Tiếp đó, hoạt động KDBĐS của các chủ thể này phải tác động trực tiếp hoặc gián 28 Hiện nay, pháp luật thuế hiện hành chưa có sự thống nhất về nội hàm khái niệm “người nộp thuế”, về vấn đề này xem thêm: Nguyễn Thị Thủy, Một số bất cập trong khái niệm “người nộp thuế” theo pháp luật thuế hiện hành, Một số bất cập trong khái niệm “người nộp thuế” theo pháp luật thuế hiện hành (lapphap.vn), truy cập ngày 21/3/2023.
Trong phạm vi luận văn này, tác giả xin phép sử dụng thuật ngữ “người nộp thuế” để chỉ những chủ thể có hoạt động KDBĐS hợp pháp tác động đến đối tượng chịu thuế và phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế từ hoạt động KDBĐS. 29 Điều 4 Luật KDBĐS 2014. 20 tiếp lên đối tượng chịu thuế trong từng sắc thuế làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế tương ứng của chủ thể. Như vậy để trở thành chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ thuế phát sinh từ hoạt động KDBĐS, đòi hỏi hai điều kiện sau: Thứ nhất, chủ thể KDBĐS được pháp luật KDBĐS quy định là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động KDBĐS hợp pháp tại Việt Nam Pháp luật hiện hành không có định nghĩa về chủ thể kinh doanh nói chung30 và chủ thể KDBĐS nói riêng.
Tuy vậy, tại Điều 10 Luật KDBĐS 2014 (được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a khoản 2 Điều 75 Luật Đầu tư 2020) quy định chủ thể thực hiện hoạt động KDBĐS được chia thành 02 nhóm31: Nhóm thứ nhất: Chủ thể thực hiện hoạt động KDBĐS phải đăng ký thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã có ngành nghề KDBĐS32, áp dụng đối với hoạt động KDBĐS có quy mô lớn, thường xuyên. Chủ thể KDBĐS thuộc nhóm này với tư cách là một doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp, nên việc KDBĐS được hiểu là hoạt động mang tính nghề nghiệp của doanh nghiệp thông qua việc thực hiện hoạt động kinh doanh thường xuyên, liên tục (như thế nào là hành vi kinh doanh liên tục thì pháp luật doanh nghiệp không có sự lý giải)33. Trước đây, pháp luật KDBĐS quy định khi thành lập doanh nghiệp để KDBĐS, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện có vốn pháp định tối thiểu (không thấp hơn 20 tỷ đồng) 34. 30 Trường Đại học Luật Tp.
HCM, tlđd (5), trang 16. 31 Các quy định về nhóm chủ thể đáp ứng điều kiện KDBĐS theo Dự thảo Luật KDBĐS sửa đổi cũng có tính chất tương đồng như quy định của Luật KDBĐS 2014. Dự thảo Luật KDBĐS sửa đổi dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu vào kỳ họp thứ 5 (tháng 5 năm 2023) của Quốc hội khóa XV và thông qua dự án Luật vào kỳ họp thứ 6 (tháng 10 năm 2023) của Quốc hội khóa XV.