CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH NGHI THỨC TANG LỄ CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ VÀI NÉT VỀ GIÁO XỨ THÁI HÀ – HÀ NỘI 1. Cơ sở hình thành nghi thức tang lễ của người Công giáo 1. Quan niệm của người Công giáo về linh hồn và thể xác Kinh Thánh bộc lộ rất rõ quan điểm về con người và linh hồn, đặc biệt khi đứng dưới góc nhìn của Tân Ước: Con người là một hữu thể thuộc về vũ trụ, có thể chất và tồn tại trong một thân xác hay huyết nhục cụ thể, bên cạnh đó, con người cũng đồng thời là một sinh vật. Hữu thể con người không tự đủ cho chính mình, có vô số những khát vọng, nhu cầu về tình cảm, sự biểu lộ cảm xúc, thái độ khác nhau, con người cũng có khả năng lý luận, suy tư, lập kế hoạch và đề ra quyết định, và điều quan trọng là con người có khả năng tiếp nhận sự tác động từ Thiên Chúa, có khả năng tiếp nhận sự sống từ nơi Khóa luận xã hội học Thiên Chúa, khả năng có được một tâm hồn chính trực.
Khả năng của con người không phải là điều gì tự sức của con người có được và có thể sở hữu như của riêng mình mà đó là do “thần khí” của Thiên Chúa, chính năng lực của Thần Khí Người làm cho con người trở nên mạnh mẽ. Thần khí là thực tại thần linh, Thần khí biểu thị quyền năng mà Thiên Chúa có thể thi thố bất cứ khi nào. Trong Tân Ước, Thần Khí được mặc khải như Đấng liên kết khăng khít với Chúa Cha và Chúa Con trong việc thực hiện công trình cứu độ. Trong Cựu ước lẫn Tân ước, nhất là trong các thư của thánh Phaolô, không phải lúc nào cũng dễ dàng phận biệt được ý nghĩa đích xác của hạn từ “thần khí”, xét như một khái niệm nhân học thì “thần khí là một quan năng để tiếp cận Thiên Chúa” [56; tr.
Một nét đặc trưng của Tân ước nói chung và đặc biệt của các văn phẩm Phaolô, đó là sự đối lập giữa thần khí và xác thịt (xc. Mt 26,41; Mc 14,38; Ga 3,6; 6,36; Rm 8,1-11, Gl 5,16-26,). Một bên là “thần khí”, tức 9 quyền năng Thiên Chúa được thông ban cho con người, ngược lại, bên kia là “xác thịt” bị coi như sự yếu đuối của con người. Và “linh hồn” chính là “thần khí” (F.
Soul), các tôn giáo đều cho rằng linh hồn là phần chính cốt, phần thiêng liêng của mỗi con người, chính linh hồn hình thành lên cuộc sống, năng lực và nhân cách của mỗi con người: linh hồn ở bên ngoài phần xác thịt, tồn tại mãi ở thế giới bên kia, cả sau khi phân xác thịt đã tan rữa thành tro bụi. Đức tin và linh hồn có từ thời xa xưa, trong cách lý giải theo thuyết vật linh về các hiện tượng tự nhiên, như hơi thở, giấc mơ, cái chết… Khái niệm linh hồn gắn liền với giáo lý về Chúa. Chúa ban tặng linh hồn cho con người từ khi sinh ra ở đời. Giáo lý về linh hồn đã đánh lạc hướng tín đồ khỏi nỗi đau khổ hàng ngày, giải thoát khỏi mọi sự áp bức bằng con đường cứu độ, mong đợi lên thế giới Thiên Đàng.
Trong Tân ước, xuất hiện trong lời nói của Đức Giêsu về sự đối lập giữa phần xác – phần hồn “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không Khóa luận xã hội học giết được linh hồn. Đúng hơn, hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28). Linh hồn được gắn với sự bất tử, khi nhắc đến linh hồn của những người quá cố. Linh hồn không thể cắt nghĩa được dựa theo cấu tạo sinh lý giống như phần xác con người.
Trí khôn nói cho ta rằng: “phải có một nguyên lý linh thiêng nối kết với xác, mà không vì thế cũng giống y như xác. Ta gọi là “hồn”. Mặc dù không thể dùng khoa học để chứng minh là có linh hồn, tuy nhiên nếu không đếm xỉa tới cái yếu tố linh thiêng làm chủ vật chất này, ta không thể hiểu được rằng con người là một hữu thể linh thiêng”. (153- 154,163), vì lẽ đó “hãy làm điều gì tốt cho xác bạn, để hồn bạn được vui vẻ ở trong xác.” Trích lời Thánh Têrêsa Avila (1515-1582), nhà thần bí Tây Ban Nha, tiến sĩ Hội Thánh.
Và Đức Bênêđictô XVI, Deus Caritas est cũng khẳng định rằng: Con người chỉ thực sự là con người khi hồn và xác hiệp nhất sâu xa với nhau. Nếu con người chỉ muốn là tinh thần và muốn từ bỏ thể xác phàm tục thì cả tinh thần lẫn thể xác đều mất hết phẩm giá. Ngược lại, con người 10 muốn từ bỏ tinh thần và coi trọng vật chất, coi thân xác như thực tại duy nhất của mình thì họ cũng tự làm mất đi giá trị cao cả của mình. Linh hồn là cái làm cho ta trở thành một con người.
Nhờ linh hồn, con người có thể xác nhận cái "Tôi" của mình, và đứng trước Thiên Chúa như một cá thể không ai thay thế được. Vì linh hồn không phải là vật chất, nên chúng ta không thể tách ra từng phần và phần thiêng liêng của mỗi con người chỉ có thể hiện hữu qua hành vi tạo dựng trực tiếp của Thiên Chúa. Trong khi khá ít những tư tưởng nói về cuộc sống con người sau cái chết để chờ đợi được phục sinh, thì tác giả sách Khôn ngoan viết vào những năm 30 trước công nguyên tại Alexandria, đã đề cập đến linh hồn con người, đó là “Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa và chẳng cực hình nào động tới được nữa. Bọn ngu si coi họ như đã chết rồi.
Khi họ ra đi, chúng cho là họ gặp phải điều vô phúc. Lúc họ xa rời chúng ta, chúng ta tưởng là họ bi tiêu diệt. Nhưng thật ra họ đang hưởng bình an” (Kn 3 1-3). Khóa luận xã hội học Kinh Nghĩa Đức Tin đã viết: “Linh hồn thiêng liêng chẳng hề chết được.
Và đến ngày tận thế, xác loài người ta sẽ sống lại mà chịu phán xét, kẻ lành lên Thiên đàng hưởng phúc đời đời, kẻ dữ sa Hỏa ngục chịu phạt vô cùng” [27; tr. Và trong Kinh Tin Thánh cũng có đoạn viết về sự sống sau cái chết. Người Việt theo Công giáo cũng tin rằng giữa những người đang sống và những người khuất vẫn có mối liên hệ qua lại. Các Thánh sẽ cùng Thiên Chúa phù hộ cho những người sống.
Người sống tạo lập các công phúc nhằm giúp các linh hồn chuộc những tội lỗi đã phạm phải khi còn ở trần gian, có thể lên Thiên Đàng và lại cùng Thiên Chúa phù hộ cho chính người sống. Chết là khi linh hồn rời khỏi xác. Linh hồn mang tính thiêng liêng chẳng hề tan biến. Linh hồn ngay khi rời khỏi xác thịt con người phải đến trước tòa Đức Chúa Giêsu mà chịu phán xét riêng về tội phúc mà chịu thưởng phạt tùy theo việc lành, dữ mình đã làm khi còn ở thế gian.
Sau khi nhận sự phán xét của Chúa, những người sạch tộicùng những người đã đền tội cho đủ 11 mới được lên Thiên đàng. Thiên đàng là nơi chứa đựng sự thanh nhàn vui vẻ đời đời, mà phúc nhất trên Thiên đàng là được chiêm ngưỡng dung nhan Đức Chúa.Những người lành, nhưng còn mắc tội mọn hay là đền tội chưa đủ, thì phải chịu phạt nơi luyện ngục. Có thể cứu rỗi linh hồn từ luyện ngục bằng cách người thân của họ cầu nguyện và làm lễ cho các linh hồn. Những người chỉ cần phạm tội trọng là đã phải chịu hình phạt hỏa ngục.
Hỏa ngục là chốn hình khổ, để mà phạt ma quỷ cùng những kẻ chết đang khi mắc tội trọng. Những kẻ đã bị xa vào hỏa ngục thì không thể cứu giúp và hình phạt không thể giảm bớt. Quan niệm về sự chết, sự sống, về phần hồn, phần xác là những tín điều mà mọi giáo dân Công giáo đều tin theo. Đối với người Kitô hữu, kẻ sống cũng như kẻ chết, sẽ được tham phần vào sự sống lại của Đức Kitô nơi thân xác họ.
“Vì chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại” (Rm 6,5). Đức Giêsu đã nói Khóa luận xã hội học về sứ mạng cứu thế của Ngài, khi chiến thắng tội lỗi và sự chết rằng: Quả thật, đây là ý muốn của Cha tôi, những ai thấy Chúa Con và tin vào Người Con, sẽ có được sự sống đời đời, và sẽ cho họ sẽ được chỗi dậy trong ngày sau hết. Công đồng Vatican II đã nói lên tình trạng của con người trước cái chết như sau: Trước cái chết, bí ẩn về thân phận con người lên đến tột độ. Con người không những bị hành hạ bởi đau khổ và sự tiến dần đến tan rã của thân xác, mà hơn thế nữa, còn bị dày vò bởi nỗi lo sợ bị tiêu diệt đời đời.
Mọi cố gắng của kỹ thuật, dù rất hữu ích, cũng không thể làm nguôi ngoai được nỗi lo âu của con người, bởi vì đời sống sinh vật, dù có được kéo dài thêm đi nữa, cũng không thể thỏa mãn được khát vọng cuộc sốngtrong lòng con người. Trước cái chết, óc tưởng tượng của con người đành bất lực. Nhưng Mạc khải của Thiên Chúa quả quyết rằng con người được Chúa dựng nên để đạt tới cứu cánh hạnh phúc sau những khổ cực trần thế này. Hơn nữa, đức tin Kitô giáo còn dạy rằng giả như con người không phạm tội, thì đã không phải 12 chết; sự chết này sẽ bị đánh bại khi Đấng Cứu Thế toàn năng và nhân ái mang lại cho con người sự cứu rỗi mà vị tội lỗi, họ đã đánh mất.
Bởi vì Thiên Chúa đã và đang kêu gọi con người đem toàn thân kết hợp với Ngài trong sự hiệp thông vĩnh viễn vào sự sống bất diệt của Thiên Chúa. Chúa Kitô đã đem lại chiến thắng ấy khi Người sống lại và nhờ cái chết của Người, Người đã giải phóng con người khỏi sự chết. Vậy đức tin với những lý chứng vững chắc đem lại giải đáp cho bất cứ ai khắc khoải ưu tư về số phận tương lai của mình. Đồng thời đức tin còn cho con người khả năng hiệp thông với những anh em thân yêu đã chết trong Chúa Kitô, và làm cho họ hy vọng rằng những người ấy đã được sống thực sự nơi Thiên Chúa (GS 18).
Thật vậy, để giải thoát ta khỏi quyền lực Thần chết, trước tiên Đức Kitô đã đến để nhận lấy cho mình số phận tử vong của chúng ta. Ngài thực hiện thánh ý của Chúa Cha là muốn cứu độ tất cả mọi người.