Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ nghệ thuật với đề tài "Mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam giai đoạn 1946 – 2006" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Hồ Trọng Minh, thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật (mã số: 62 21 01 01) tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Ngọc Dũng và PGS. Đoàn Thị Mỹ Hương, bảo vệ năm 2017.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong đời sống thường nhật, tiền tệ thường được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ phương tiện lưu thông và giá trị trao đổi tiêu dùng, trong khi khía cạnh biểu đạt hình ảnh, giá trị văn hóa và thẩm mỹ mỹ thuật của đồng tiền chưa nhận được sự quan tâm tương xứng. Trên bình diện quốc tế hiện có gần 200 loại tiền giấy thuộc các quốc gia và vùng lãnh thổ được lưu hành. Tại Việt Nam, hệ thống tiền giấy do nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, phát hành từ năm 1945 đến nay là hệ thống tiền tệ duy nhất lưu hành hợp pháp trên toàn bộ lãnh thổ.
Quá trình khảo sát tài liệu cho thấy các công trình nghiên cứu về văn hóa và mỹ thuật của tiền giấy Việt Nam được công bố còn rất hạn chế. Phần lớn các tài liệu đã xuất bản thuộc dạng hồi ký về lịch sử phát hành hoặc tổng kết kinh tế, chưa đi sâu phân tích tiền giấy dưới tư cách một đối tượng thẩm mỹ hay xác định vị thế của đồ họa tiền giấy trong lịch sử mỹ thuật dân tộc. Sự thiếu vắng này dẫn tới những khoảng trống cụ thể:
- Về mặt lý luận: Giới nghiên cứu thiếu cơ sở khoa học để định danh thể loại, đánh giá giá trị nghệ thuật và xác lập vị trí của mỹ thuật tiền giấy trong tiến trình mỹ thuật Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Thiếu các công trình nghiên cứu khiến công chúng chưa hiểu rõ giá trị nghệ thuật của tiền giấy; các cơ quan quản lý gặp khó khăn trong việc xây dựng tiêu chuẩn thẩm mỹ cho thiết kế tiền tệ; đồng thời việc nghiên cứu giúp hỗ trợ nhận diện bản chất thẩm mỹ để phân biệt tiền thật và tiền giả. Bên cạnh đó, thế hệ họa sĩ từng thiết kế các hệ thống tiền giấy trước đây và tiền polymer hiện hành tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đa phần đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đúc kết, hệ thống hóa tri thức tạo hình phục vụ công tác thiết kế các hệ thống tiền tệ tiếp theo.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục đích tổng quát: Xác định đồ họa tiền giấy Việt Nam như một bộ phận cấu thành của lịch sử mỹ thuật Việt Nam; làm sáng tỏ nhận thức về giá trị mỹ thuật trên tiền giấy cũng như những đóng góp của mỹ thuật tiền giấy vào nền mỹ thuật dân tộc.
- Mục đích cụ thể:
- Làm rõ mỹ thuật trên tiền giấy như một dạng đồ họa đặc biệt thuộc loại hình mỹ thuật ứng dụng.
- Phân tích các yếu tố mỹ thuật cấu thành tiền giấy, trong đó nhấn mạnh nghệ thuật trang trí, việc kế thừa vốn cổ dân tộc và đặc trưng tạo bản mẫu bằng nét vẽ.
- Làm rõ các đặc điểm mỹ thuật và hiệu quả thẩm mỹ đạt được thông qua kỹ thuật in ấn tiền giấy Việt Nam.
- Xác định mối liên hệ giữa mỹ thuật trên tiền giấy với nền mỹ thuật Việt Nam, chỉ ra sự chuyển biến về phong cách mỹ thuật (hình tượng nghệ thuật, phong cách trang trí, ngôn ngữ đồ họa) theo tiến trình lịch sử.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Luận án xác lập 03 câu hỏi và 04 giả thuyết nghiên cứu được đánh số tương ứng:
Câu hỏi nghiên cứu:
- Mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam là loại thể nào? Tiền giấy Việt Nam có giá trị nghệ thuật hay không?
- Đặc trưng của mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam như thế nào? Phong cách mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam có sự thay đổi như thế nào?
- Ngôn ngữ mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam là gì, đóng góp gì trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam?
Giả thuyết nghiên cứu:
- Mỹ thuật trang trí trên tiền giấy Việt Nam có giá trị nghệ thuật đặc sắc, là dạng đồ họa đặc biệt, thuộc loại hình mỹ thuật ứng dụng.
- Mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam là sản phẩm kết hợp giá trị văn hóa, mỹ thuật, trang trí truyền thống cùng với các yếu tố đặc trưng cho ngôn ngữ đồ họa của tiền giấy. Hoa văn dân tộc kết hợp hoa văn lưới, hình ảnh chủ đề và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh là các thành tố chủ yếu tạo nên diện mạo của tiền giấy Việt Nam.
- Cùng dòng chảy lịch sử mỹ thuật Việt Nam, mỹ thuật trên tiền giấy cũng có những biến đổi phong cách qua các giai đoạn lịch sử.
- Với ngôn ngữ đồ họa nét và cách trang trí, mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam có vị trí nhất định trong tiến trình phát triển của mỹ thuật Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các đặc trưng của mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam, bao gồm nghệ thuật sử dụng nét đồ họa, nghệ thuật trang trí và việc ứng dụng các yếu tố mỹ thuật truyền thống trong thiết kế tiền giấy.
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu tập trung vào các hệ thống tiền giấy do Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phát hành từ năm 1946 đến năm 2006 trên lãnh thổ Việt Nam. Mốc thời gian 1946 bắt đầu từ Sắc lệnh ngày 31/01/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc phát hành đồng Tiền Tài chính do Bộ Tài chính ấn loát; mốc thời gian 2006 là năm phát hành đồng tiền polymer cuối cùng trong hệ thống tiền tệ hiện hành.
- Phạm vi liên hệ mở rộng: Để làm rõ đối tượng nghiên cứu, luận án mở rộng khảo sát, đối chiếu với các hệ thống tiền tệ từng xuất hiện tại Việt Nam gồm: tiền giấy Nam Bộ và tín phiếu Trung Bộ (Liên khu V) thời kỳ kháng chiến chống Pháp; hai bộ tiền do Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phát hành trong kháng chiến chống Mỹ; tiền phát hành tại miền Nam sau ngày 30/4/1975; hệ thống tiền giấy của Ngân hàng Đông Dương và tiền giấy do Ngân hàng Quốc gia thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa phát hành tại miền Nam trước năm 1975.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án phân chia các tài liệu nghiên cứu liên quan đến tiền giấy Việt Nam thành hai nhóm chính:
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TIỀN GIẤY
|
+---------------------------------+---------------------------------+
| |
[Nhóm Tiếp cận Lịch sử, Kinh tế - Xã hội] [Nhóm Tiếp cận Kỹ thuật, Mỹ thuật & Thiết kế]
- Maurice Kolsky & Maurice Muszynski (1996) - David Standish (2000)
- Phan Văn Hùm (1945); Trần Dương & Phạm Thọ (1960) - Tài liệu hãng Sicpa (2002); PolyTeQ Service (2002)
- Tập thể tác giả NHNN (1982, 1991, 2006, 2011) - Sách kỹ thuật nhận biết tiền thật/giả (2008)
- ĐH Ngân hàng TP.HCM (2006); Lục Đức Thuận & Võ Quốc Kỳ (2009) - Luận văn ThS. Nguyễn Thị Tố Uyên (2013)
- Lê Việt Cường, Ngô Quang Lương, Nguyễn Mạnh Tùng (2011)... - Luận văn ThS. Trần Tuấn Nam (2014)
Các hướng nghiên cứu trước đây
-
Nhóm nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ lịch sử, kinh tế và xã hội:
- Tài liệu quốc tế: Cuốn sách tiếng Pháp Les Billets de la Banque de l’Indochine (1996) của Maurice Kolsky và Maurice Muszynski khảo sát chi tiết tiền giấy Ngân hàng Đông Dương tại Việt Nam về kích thước, hình vẽ, tên họa sĩ sáng tác và nhà in.
- Tài liệu trong nước:
- Cuốn Tiền bạc (Khảo cứu về vấn đề tiền tệ) của Phan Văn Hùm (1945) lược khảo tình hình kinh tế tiền tệ trước 1945.
- Cuốn Lưu thông tiền tệ ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa của Trần Dương và Phạm Thọ (1960) đề cập sơ bộ lịch sử tiền tệ từ thời thuộc Pháp đến năm 1959.
- Hồi ký Những năm, tháng thử thách trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945-1954 (1982) ghi chép hoạt động tiếp quản, in ấn và điều chuyển tiền tệ tại chiến khu Việt Bắc.
- Cuốn sách Tiền Việt Nam (1991) và tập hồi ký 40 mùa sen nở (1991, tập hợp 117 bài viết) do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhân kỷ niệm 40 năm thành lập.
- Tập sách ảnh 100 năm tiền giấy Việt Nam do Hội Tem TP. Trẻ phát hành (1994).
- Tập hồi ký hai tập Một thời không quên (1995) viết về Sở Ấn loát Tài chính Trung Bộ in và phát hành "giấy bạc Cụ Hồ" (1946-1952).
- Kỷ yếu hội thảo Tiền tệ 300 năm Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh (1998, 20 bài tham luận).
- Cuốn Tiền Việt Nam – Xưa và nay do Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh biên soạn (2006) theo dạng sử ký phổ thông.
- Kỷ yếu hội thảo khoa học Tiền Việt Nam - Các giá trị lịch sử kinh tế và xã hội do Ngân hàng Nhà nước tổ chức ngày 22/4/2006 tại Hà Nội.
- Tập sách Sưu tập tiền giấy tiêu biểu Việt Nam và Quốc tế của Thiên Kim (2009) giới thiệu hình ảnh tiền giấy của 102 quốc gia.
- Cuốn Tiền cổ Việt Nam của Lục Đức Thuận và Võ Quốc Kỳ (2009) và 1000 năm tiền tệ Thăng Long của Nguyễn Thanh Châu và Ngô Hướng (2010).
- Công trình Tiền Việt Nam của Lê Việt Cường, TS. Ngô Quang Lương và Nguyễn Mạnh Tùng (2011) liệt kê hệ thống tiền tệ qua các triều đại phong kiến và từ năm 1945 đến nay.
- Cuốn 60 năm Ngân hàng Việt Nam – Tư liệu và hình ảnh do Phó Thống đốc Nguyễn Đồng Tiến chủ biên (2011).
- Các bài báo chuyên khảo của Nguyễn Thanh Châu ("Sự hóa thân của đồng tiền", "Vài nét về tiền tệ 300 năm Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh", "Năm mươi năm giấy bạc Ngân hàng ra đời và phát triển") và bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Anh Huy (2012) về hiện tượng nhiều loại tiền cùng lưu hành.
-
Nhóm nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ kỹ thuật, mỹ thuật và thiết kế in ấn:
- Cuốn sách The Art of Money: The history and design of paper currency from around the world của David Standish (2000) đề cập tới 02 mẫu tiền Việt Nam (mẫu 200 đồng vẽ máy cày và mẫu 500 đồng thời Việt Nam Cộng hòa vẽ hình con hổ).
- Tài liệu thuyết trình nghiệp vụ của hãng sản xuất mực in và yếu tố chống giả cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2001).
- Tài liệu nghiệp vụ Nghiên cứu kỹ thuật về các tờ bạc Việt Nam do hãng Sicpa thực hiện (2002) khảo sát hệ thống tiền cotton (1987-2010) nhằm phân loại cấp độ chống giả.
- Tài liệu Sản xuất tiền Polymer (2002) của hai kỹ sư và nhà thiết kế Danny Reid và Neil Burnham thuộc hãng PolyTeQ Service (Úc) dùng đào tạo cho họa sĩ thiết kế tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Cuốn sách Kỹ thuật nhận biết tiền thật tiền giả (2008) tiếp cận thuần túy ở góc độ kỹ thuật in ấn và bảo an.
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tố Uyên (2013) với đề tài "Nghệ thuật thiết kế mẫu tiền giấy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam" (Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội, 104 trang), trong đó dành 17 trang khái quát lý thuyết bố cục, màu sắc và 25 trang tóm tắt lịch sử 8 hệ thống tiền tệ (trung bình 2,5 trang cho mỗi bộ tiền).
- Luận văn thạc sĩ của Trần Tuấn Nam (2014) với đề tài "Bố cục theo chủ đề trong trang trí tiền giấy Việt Nam từ 1946 đến 2006" (Đại học Mỹ thuật Việt Nam, 66 trang), chủ yếu liệt kê các dạng bố cục và mô tả hình ảnh xuất hiện trên tiền giấy, chưa phân tích bối cảnh kinh tế - chính trị hay các nguyên lý tạo hình chuyên sâu.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả nhận định các công trình lịch sử kinh tế trước đây chủ yếu tập trung vào tiền kim loại hoặc ghi chép sự kiện phát hành mà không phân tích giá trị thẩm mỹ tạo hình. Các tài liệu kỹ thuật bảo an chỉ thuần túy phục vụ công nghệ in ấn. Hai luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tố Uyên và Trần Tuấn Nam đã bước đầu tiếp cận tiền giấy dưới góc độ mỹ thuật nhưng dung lượng còn mỏng, mang tính liệt kê, thiếu các phân tích sâu về ngôn ngữ đồ họa, phương pháp trang trí và nghệ thuật sử dụng nét vẽ.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết là xác lập một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật; phân tích tiền giấy Việt Nam như một dạng tác phẩm đồ họa đặc biệt thuộc mỹ thuật ứng dụng; làm rõ cấu trúc tạo hình (hoa văn, hình ảnh chủ đề, chân dung) và xác định đóng góp của mỹ thuật tiền giấy trong tiến trình phát triển của mỹ thuật hiện đại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự giao thoa giữa lý luận mỹ thuật học, lý thuyết hình thái học nghệ thuật và các tiêu chuẩn thiết kế tiền tệ quốc tế:
- Lý thuyết hình thái học nghệ thuật của M. Kagan: Trong công trình Hình thái học của nghệ thuật, M. Kagan chỉ ra sự phân chia nghệ thuật thành nghệ thuật hai chức năng (nghệ thuật và vụ lợi) và nghệ thuật một chức năng (nghệ thuật thuần túy). Trong tiến trình lịch sử, từ nghệ thuật nguyên thủy đã diễn ra sự phân hóa thành các phức thể nghệ thuật văn nghệ và nghệ thuật kỹ thuật. Nhánh sản xuất nghệ thuật phân tách thành "sáng tạo theo kiến trúc" và "sáng tạo theo miêu tả", từ đó hình thành loại hình nghệ thuật ứng dụng vốn luôn phát triển song hành với sự tiến bộ của khoa học công nghệ. Luận án vận dụng luận điểm này để định vị tiền giấy là sản phẩm thuộc mỹ thuật ứng dụng mang tính kiến trúc - kỹ thuật cao.
- Quan điểm của Hans de Heij: Chuyên gia nghiên cứu tiền tệ quốc tế khẳng định thiết kế tiền giấy là một dạng đặc biệt của thiết kế đồ họa ("is a specific of graphic design"). Nhà thiết kế tiền giấy cần nắm vững và tích hợp 37 yếu tố cấu thành tiền giấy cùng các đặc tính kỹ thuật in ấn đa công nghệ, giấy nền và yếu tố bảo an.
- Tiêu chuẩn thiết kế của Viện Nghiên cứu Tiền tệ Châu Âu (1996): Văn bản Chỉ dẫn thiết kế cho hệ thống tiền giấy châu Âu (Design brief for the design of a series of Euro banknotes) ban hành các tiêu chí cốt lõi: tính dễ nhận biết, khả năng bảo an chống giả, tính thẩm mỹ hấp dẫn; quy định chân dung đặt ở mặt trước in lõm (nhìn thấy rõ hai mắt); nguyên tắc phân bổ yếu tố chống giả phân tán trên bề mặt; quy định màu sắc chủ đạo riêng biệt cho từng mệnh giá và việc sử dụng các hình tượng kiến trúc (cổng ở mặt trước biểu trưng cho sự chào đón, cầu ở mặt sau biểu trưng cho sự kết nối giao lưu).
- Lý thuyết về tác phẩm nghệ thuật và đồ họa ứng dụng: Luận án tiếp thu quan điểm của Hegel về tác phẩm nghệ thuật do con người tạo ra nhằm tác động đến tình cảm thẩm mỹ; quan điểm của Ốp-xi-an-nhi-cốp trong Mỹ học cơ bản và nâng cao; cấu trúc tác phẩm 4 lớp với hạt nhân là hình tượng nghệ thuật của TSKH. Đỗ Văn Khang (Nghệ thuật học); và quan điểm của E. Chernevich về quy trình đồ họa in ấn nhân bản hàng loạt từ một bản mẫu thiết kế (ma-két).
- Cơ sở thực tiễn mỹ thuật ứng dụng Việt Nam: Luận án kế thừa các quan điểm học thuật của Vũ Đình Nhâm (2002), Lê Huy Tiếp (2002), Lê Thị Hoài Linh (2002) và Hoàng Minh Phúc (Đồ họa in khắc gỗ hiện đại Việt Nam) khi xếp giấy bạc, tiền giấy thời Hồ (năm 1396) và tiền giấy hiện đại vào lĩnh vực đồ họa in ấn ứng dụng. Luận án cũng viện dẫn dữ liệu thực tiễn từ Triển lãm Mỹ thuật Ứng dụng Toàn quốc lần thứ 2 (năm 2009, trưng bày chân dung Bác Hồ trên tờ tiền của họa sĩ Lê Hoàng Từ) và lần thứ 3 (năm 2014, trưng bày maket thiết kế phóng to mẫu tiền polymer 500.000 đồng và 10.000 đồng của tác giả Hồ Trọng Minh).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu định tính và thực địa chuyên ngành:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức lịch sử, chính trị, văn hóa học và mỹ thuật học để lý giải sự ra đời và biến đổi của các mẫu tiền giấy gắn liền với bối cảnh xã hội của từng thời kỳ.
- Phương pháp khảo sát, đo đạc, ghi chép hiện vật: Trực tiếp khảo sát, đo đạc kích thước, ghi chép các thông số tạo hình trên hiện vật thực tế gồm các tờ tiền giấy gốc, bản in kẽm và các tư liệu lưu trữ.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa các mẫu tiền trong cùng một hệ thống và giữa các hệ thống tiền tệ qua các thời kỳ lịch sử; so sánh quy trình sáng tác tác phẩm đồ họa thông thường với quy trình thiết kế chế bản tiền giấy.
- Phương pháp khảo sát tham dự: Tác giả sử dụng kinh nghiệm thực tiễn hơn 10 năm công tác tại Phòng Thiết kế mẫu tiền thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trực tiếp tham gia thiết kế các mẫu ngân phiếu thanh toán, tiền polymer và tiền kim loại để phân tích bản chất kỹ thuật - nghệ thuật từ góc nhìn của người trong nghề.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn định tính (phi cấu trúc và bán cấu trúc) đối với các họa sĩ thiết kế tiền giấy tiền bối, các chuyên gia in ấn kỹ thuật và các nhà sưu tầm tiền tệ.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): Lựa chọn các mẫu tiền điển hình trong số hàng trăm mẫu tiền đã phát hành để phân tích chi tiết cấu trúc đồ họa, từ đó khái quát hóa thành các quy luật thẩm mỹ chung.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hiện vật tiền giấy, bản in kẽm lưu trữ tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các bộ sưu tập tư nhân.
- Văn bản pháp lý: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Điều 4 quy định về in, đúc, bảo quản, phát hành tiền giấy), Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (Điều 55 quy định về đồng tiền quốc gia), cùng các quy chế của Ngân hàng Nhà nước về quản lý mẫu thiết kế, mẫu in chuẩn và bản in gốc.
- Các tài liệu lưu trữ chuyên ngành, báo cáo kỹ thuật của các đối tác in ấn quốc tế và kỷ yếu hội thảo khoa học.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có tổng dung lượng gồm phần Mở đầu (09 trang), Kết luận (04 trang), Tài liệu tham khảo (10 trang), Phụ lục (75 trang) và 03 chương nội dung chính:
| Cấu trúc luận án | Tên chương / phần | Dung lượng |
|---|---|---|
| Phần Mở đầu | Đặt vấn đề, mục đích, đối tượng, phương pháp nghiên cứu | 09 trang |
| Chương 1 | Cơ sở lý luận và tổng quan các vấn đề có liên quan tới luận án | 37 trang |
| Chương 2 | Nhận diện yếu tố mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam | 43 trang |
| Chương 3 | Đặc trưng nghệ thuật và sự biến đổi phong cách mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam | 57 trang |
| Phần Kết luận | Tổng kết luận án | 04 trang |
| Tài liệu tham khảo & Phụ lục | Danh mục tài liệu tham khảo (10 trang) và Phụ lục minh họa (75 trang) | 85 trang |
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan các vấn đề có liên quan tới luận án
Chương 1 tập trung giải quyết các tiền đề lý thuyết nhằm chứng minh tiền giấy là một sản phẩm mỹ thuật tạo hình thuộc chuyên ngành đồ họa ứng dụng, đồng thời khái lược lịch sử tiền tệ thế giới và Việt Nam.
TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ TIỀN TỆ ĐƯỢC HỆ THỐNG TRONG CHƯƠNG 1
========================================================================================
1. Sơ sử & Cổ đại:
- Trao đổi vật phẩm tự nhiên: vỏ ốc, tảng đá, đĩa đá (đường kính tới 4m tại Thái Bình Dương).
- Lưỡng Hà (Mesopotamia) & Ai Cập (3000 TCN): thanh toán bằng bạc cân trọng lượng.
- Lidia (Thổ Nhĩ Kỳ, TK VII TCN): tiền kim loại đóng dấu đầu tiên.
- Trung Quốc: Tiền vỏ ốc (nhà Hạ), Đao tiền, Bố tiền (nhà Chu), Bán lạng (nhà Tần).
- Việt Nam: Vỏ ốc, chuỗi hạt đá (Văn hóa Phùng Nguyên); Thái Bình Hưng Bảo (năm 970, thời Đinh).
----------------------------------------------------------------------------------------
2. Lịch sử Tiền giấy thế giới:
- Trung Quốc: Bắc Tống (TK X - XI) xuất hiện văn tự giấy; nhà Minh (1380) in tiền giấy khắc gỗ.
- Châu Âu: Thụy Điển (1661, 100 Daler); Anh (1723); Pháp (1718); Giáo hoàng Pius VI (1786).
----------------------------------------------------------------------------------------
3. Lịch sử Tiền giấy Việt Nam:
- Năm 1396: Hồ Quý Ly cho phát hành "Thông Bảo Hội Sao" vẽ tứ linh và mây sóng.
- Thời thuộc Pháp: Ngân hàng Đông Dương phát hành tiền giấy trên toàn cõi Đông Dương.
- Từ 1946 đến nay: Tiền giấy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
========================================================================================
- Luận điểm xác lập tư cách mỹ thuật của tiền giấy: Tiền giấy ngoài 3 chức năng kinh tế cơ bản (thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ) còn là sản phẩm ghi dấu ấn văn hóa, thẩm mỹ của một dân tộc. Thiết kế mẫu tiền giấy là một quy trình sáng tạo mỹ thuật phức tạp do họa sĩ thực hiện bằng bút chì, bút lông và màu sắc (vẽ tiền/tạo ma-két), sau đó chuyển qua công nghệ chế bản và in ấn bảo an đa lớp. Mẫu tiền sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt trở thành tác phẩm đồ họa mẫu (specimen), và các tờ tiền lưu thông đóng vai trò là các bản in nhân bản.
- Hệ thống hóa khái niệm và thuật ngữ: Chương này chuẩn hóa các định nghĩa về tiền giấy, tiền cổ, hệ thống tiền, bộ tiền, mẫu thiết kế đồng tiền, mẫu in chuẩn, bản in gốc, tác giả mẫu tiền, nghệ thuật trang trí.
- Số liệu và bảng biểu quan trọng: Chương 1 xây dựng Bảng 1.1: Các đợt phát hành tiền giấy tại Việt Nam, thống kê các mốc phát hành từ năm 1946 đến 2006.
Chương 2: Nhận diện yếu tố mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam
Chương 2 đi sâu phân tích 03 thành tố tạo hình cốt lõi cấu thành diện mạo mỹ thuật của tờ tiền giấy Việt Nam:
- Hoa văn họa tiết trên tiền giấy Việt Nam:
- Phân tích sự kết hợp giữa hai hệ thống hoa văn: hoa văn truyền thống dân tộc (hoa sen, hoa cúc, mây sóng, họa tiết trống đồng, hoa văn thời Lý, Trần, Lê) và hoa văn hình học - hoa văn lưới bảo an (guilloche lines) được tạo lập bằng kỹ thuật đồ họa vi tính và máy khắc chuyên dụng.
- Hoa văn trên tiền giấy đóng vai trò phân chia mảng khối, tạo khung viền, làm nền bảo an chống giả và thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc.
- Hình ảnh chủ đề trong tiền giấy Việt Nam:
- Khảo sát các hình ảnh chủ đề phản ánh hiện thực lịch sử đấu tranh cách mạng, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển nông nghiệp - công nghiệp, các công trình kiến trúc văn hóa tiêu biểu (Chùa Một Cột, Khuê Văn Các, Vịnh Hạ Long, Nhà sàn Bác Hồ, Nhà máy thủy điện Trị An, Cầu Tràng Tiền...).
- Hình ảnh chủ đề được chắt lọc, bố cục hài hòa với các thành phần chữ số mệnh giá và quốc hiệu.
- Chân dung trong tiền giấy Việt Nam:
- Phân tích nghệ thuật khắc họa chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh – hình tượng trung tâm và xuyên suốt trên mặt trước (mặt A) của hầu hết các tờ tiền giấy Việt Nam từ năm 1946 đến nay.
- Nghệ thuật diễn tả chân dung trên tiền giấy đòi hỏi kỹ thuật tạo hình bằng nét khắc/nét vẽ đặc thù nhằm bảo đảm tính thần thái, sự chuẩn xác tuyệt đối về giải phẫu học tạo hình và khả năng thể hiện bằng công nghệ in lõm (intaglio).
- Số liệu và minh họa tiêu biểu: Hình/Bảng 2.1: Các chi tiết mang tính biểu tượng trong tiền giấy Việt Nam.
Chương 3: Đặc trưng nghệ thuật và sự biến đổi phong cách mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam
Chương 3 tổng kết các đặc trưng tạo hình chuyên biệt và phác họa tiến trình biến đổi phong cách mỹ thuật tiền giấy qua 60 năm:
- Đặc điểm nghệ thuật trang trí: Tính đối xứng, sự phân bố lớp lang giữa mảng chính và mảng phụ, sự đan xen giữa trang trí cổ điển phương Tây và tư duy trang trí dân gian Việt Nam.
- Đặc điểm nghệ thuật đồ họa: Ngôn ngữ tạo hình chủ đạo là nghệ thuật nét (line art). Khác với tranh vẽ tả khối bằng mảng màu vờn chuyển liên tục, đồ họa tiền giấy quy ước toàn bộ khối, độ đậm nhạt và chiều sâu không gian về mật độ, độ dày mỏng và hướng đi của các đường nét.
SO SÁNH QUY TRÌNH SÁNG TÁC TÁC PHẨM ĐỒ HỌA VÀ MẪU TIỀN GIẤY
(Tổng hợp theo Bảng 3.2, trang 150 của Luận án)
-----------------------------------------------------------------------------------------
Tiêu chí Tác phẩm Đồ họa Thông thường Mẫu Tiền giấy
-----------------------------------------------------------------------------------------
Mục đích sáng tác Thẩm mỹ thuần túy / truyền thông Phương tiện thanh toán & bảo an
Số phương pháp in Thường 1 phương pháp (khắc gỗ, kẽm) Tích hợp nhiều công nghệ in cùng lúc
Cấu trúc tạo hình Tự do, đa dạng hình thức biểu đạt Cố định 3 thành tố: hoa văn, chủ đề, chân dung
Quy chuẩn nét Theo cảm xúc cá nhân họa sĩ Nét vi mô, chuẩn xác kỹ thuật tuyệt đối
Quy mô phát hành Số lượng giới hạn Hàng triệu bản, lưu thông dài hạn
-----------------------------------------------------------------------------------------
- Chuyển biến về phong cách mỹ thuật qua các giai đoạn:
- Giai đoạn 1946 – 1954 (Thời kỳ kháng chiến chống Pháp): Tiền Tài chính in trong điều kiện sơ tán chiến khu; nét vẽ mộc mạc, đậm chất đồ họa khắc gỗ dân gian, phản ánh hình ảnh công nông binh và chân dung Bác Hồ thời kỳ đầu kháng chiến.
- Giai đoạn 1954 – 1975 (Thời kỳ xây dựng miền Bắc, đấu tranh thống nhất): Thiết kế tiền giấy tiếp cận kỹ thuật in ấn công nghiệp hiện đại; phong cách tạo hình mang tính hiện thực xã hội chủ nghĩa, chuẩn mực trang trí rõ nét.
- Giai đoạn 1975 – 1985 (Thời kỳ sau ngày thống nhất đất nước): Sự thống nhất hệ thống tiền tệ toàn quốc; chủ đề mở rộng phản ánh khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tái thiết đất nước.
- Giai đoạn 1985 – 2006 (Thời kỳ Đổi mới đến hệ thống tiền Polymer): Ứng dụng công nghệ đồ họa máy tính; kết hợp chất liệu cotton và nền nhựa polymer; nâng cao độ phức tạp của hoa văn chống giả và màu sắc đa dạng.
- Đóng góp vào lịch sử mỹ thuật: Mỹ thuật tiền giấy làm phong phú thể loại đồ họa ứng dụng, đóng góp các mẫu chân dung đồ họa chuẩn mực và lưu giữ hệ thống hoa văn cổ dân tộc trên phương tiện truyền thông đại chúng đặc thù.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Là công trình chuyên khảo đầu tiên trong chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật tại Việt Nam nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về mỹ thuật trên tiền giấy.
- Xác định rõ vị trí của thiết kế tiền giấy là một dạng nghệ thuật đồ họa đặc biệt thuộc loại hình mỹ thuật ứng dụng, chứng minh mỗi mẫu thiết kế tiền giấy hoàn chỉnh là một tác phẩm mỹ thuật có giá trị văn hóa - thẩm mỹ cao.
- Làm sáng rõ ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù của tiền giấy Việt Nam (nghệ thuật nét, nghệ thuật trang trí hoa văn dân tộc kết hợp hoa văn lưới bảo an, nghệ thuật khắc họa chân dung lãnh tụ).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Nâng cao nhận thức xã hội và giới chuyên môn về giá trị mỹ thuật và bản sắc văn hóa tiềm ẩn trên tờ tiền giấy quen thuộc hàng ngày.
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm và nguyên tắc tạo hình cho các họa sĩ thiết kế tiền tệ tương lai; cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thẩm mỹ giúp các nhà quản lý (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) xây dựng tiêu chuẩn thiết kế các bộ tiền tiếp theo.
- Khẳng định vai trò của đồng tiền giấy như một biểu trưng văn hóa, phương tiện đại sứ quảng bá hình ảnh quốc gia, nghệ thuật truyền thống và lịch sử Việt Nam ra thế giới.
- Góp phần tôn vinh giá trị di sản hoa văn truyền thống dân tộc và ghi nhận công lao của đội ngũ họa sĩ thiết kế mẫu tiền trong lịch sử mỹ thuật nước nhà.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo phạm vi luận án xác định, công trình tập trung nghiên cứu tiền giấy dưới góc độ thẩm mỹ tạo hình, văn hóa và lịch sử mỹ thuật, do đó chủ động tách biệt với các bí mật công nghệ bảo an và quy trình chống giả chuyên sâu của ngành in tiền. Bên cạnh đó, do tính chất phân tán của các tài liệu lịch sử in tiền thời kỳ chiến khu (1946-1954), một số thông tin về tác giả của một vài chi tiết phụ trợ trên một số mẫu tiền lẻ chưa thể truy nguyên triệt để.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh mỹ thuật tiền giấy Việt Nam với hệ thống tiền giấy của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và châu Á.
- Nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật đồ họa trên các loại giấy tờ có giá khác như ngân phiếu, công trái, tem thư và tiền kim loại đúc.
- Đánh giá sự tác động của công nghệ kỹ thuật số và vật liệu mới đối với ngôn ngữ tạo hình tiền tệ trong kỷ nguyên thanh toán điện tử.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Mỹ thuật Ứng dụng, Thiết kế Đồ họa; phần đáng tham khảo nhất là khung lý thuyết phân loại hình thái nghệ thuật (Chương 1) và phương pháp phân tích cấu trúc đồ họa nét, hoa văn, chân dung (Chương 2 và 3).
- Họa sĩ thiết kế đồ họa và chuyên gia ngân hàng: Các họa sĩ thiết kế đồ họa bao bì, nhận diện thương hiệu, họa sĩ thiết kế tiền tệ và cán bộ quản lý phát hành tiền thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; phần đáng tham khảo là Bảng 3.2 so sánh các công đoạn sáng tác đồ họa và tiền giấy cùng các tiêu chuẩn thiết kế tiền tệ quốc tế.
- Nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa và giới sưu tầm tiền tệ: Cung cấp nguồn tư liệu hiện vật được khảo sát có hệ thống, giúp lý giải ý nghĩa biểu tượng, bối cảnh ra đời và niên đại của các bộ tiền giấy Việt Nam từ năm 1946 đến 2006.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án xác định tiền giấy là một dạng đồ họa đặc biệt thuộc mỹ thuật ứng dụng?
Tiền giấy được tạo tác bằng ngôn ngữ đồ họa (nét vẽ, hoa văn, mảng khối, màu sắc) do họa sĩ thiết kế ban đầu dưới dạng ma-két phác thảo, sau đó được nhân bản hàng loạt bằng công nghệ in ấn. Khác với đồ họa in tranh thông thường (chỉ dùng 1 kỹ thuật in và phục vụ thẩm mỹ thuần túy), tiền giấy tích hợp đồng thời nhiều công nghệ in ấn phức tạp (in lõm, in typo, in offset), đòi hỏi tuân thủ 37 yếu tố kỹ thuật và bảo an nghiêm ngặt nhằm phục vụ chức năng lưu thông tiền tệ của quốc gia. Do đó, theo lý thuyết hình thái học của M. Kagan và quan điểm của Hans de Heij, tiền giấy là một dạng đặc biệt của thiết kế đồ họa ứng dụng.
2. Tiêu chuẩn thiết kế tiền Euro năm 1996 được luận án tiếp thu nhằm mục đích gì?
Luận án dẫn chiếu văn bản Design brief for the design of a series of Euro banknotes (1996) của Viện Nghiên cứu Tiền tệ Châu Âu nhằm xây dựng khung lý thuyết chuẩn quốc tế về thiết kế tiền giấy. Các tiêu chí được tiếp thu bao gồm: tính dễ nhận biết, độ bảo an chống giả, tính thẩm mỹ hấp dẫn; nguyên tắc thể hiện chân dung ở mặt trước in lõm (thấy rõ hai mắt); phân bổ phân tán các yếu tố bảo an; quy định màu sắc chủ đạo riêng biệt cho từng mệnh giá và việc sử dụng các hình tượng kiến trúc (cổng và cầu) để truyền tải thông điệp văn hóa - chính trị.
3. Tác giả luận án có lợi thế thực tiễn nào khi thực hiện phương pháp khảo sát tham dự?
Tác giả Hồ Trọng Minh có hơn 10 năm công tác tại Tổ Họa (sau đổi tên thành Phòng Thiết kế mẫu tiền) thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tác giả đã trực tiếp tham gia thiết kế nhiều mẫu ngân phiếu thanh toán và các mẫu tiền trong hệ thống tiền polymer (trong đó trực tiếp thiết kế mặt sau tờ tiền polymer mệnh giá 500.000 đồng và 10.000 đồng). Kinh nghiệm thực tiễn này cho phép tác giả tiếp cận trực tiếp với quy trình chế bản, xưởng in, chuyên gia quốc tế và nắm vững bản chất kỹ thuật tạo hình chuyên sâu của nghề thiết kế tiền.
4. Mốc thời gian 1946 và 2006 của phạm vi nghiên cứu được xác lập dựa trên cơ sở nào?
- Năm 1946: Đánh dấu sự ra đời của tờ tiền giấy đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo Sắc lệnh ngày 31/01/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc phát hành đồng Tiền Tài chính do Bộ Tài chính ấn loát.
- Năm 2006: Là thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành đồng tiền polymer cuối cùng (mệnh giá 10.000 đồng và 200.000 đồng), hoàn tất việc đưa toàn bộ hệ thống tiền polymer hiện hành vào lưu thông.
5. Ba thành tố tạo hình cơ bản tạo nên diện mạo mỹ thuật của tiền giấy Việt Nam gồm những gì?
Ba thành tố cốt lõi được nhận diện trong Chương 2 của luận án bao gồm:
- Hoa văn họa tiết: Sự kết hợp giữa hoa văn truyền thống dân tộc (hoa sen, hoa cúc, mây sóng, trống đồng) và hoa văn lưới hình học bảo an.
- Hình ảnh chủ đề: Các hình ảnh phản ánh phong cảnh thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - kiến trúc và thành tựu xây dựng kinh tế - xã hội của đất nước.
- Chân dung: Nghệ thuật khắc họa chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng ngôn ngữ nét đồ họa chuẩn xác, trang trọng ở mặt trước tờ tiền.
Kết luận
Luận án tiến sĩ nghệ thuật "Mỹ thuật trên tiền giấy Việt Nam giai đoạn 1946 – 2006" của tác giả Hồ Trọng Minh là công trình khoa học chuyên khảo tiếp cận tiền giấy dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật. Thông qua việc vận dụng lý thuyết hình thái học nghệ thuật, tiêu chuẩn thiết kế quốc tế và phương pháp khảo sát tham dự, luận án đã chứng minh tiền giấy là một dạng tác phẩm đồ họa đặc biệt thuộc loại hình mỹ thuật ứng dụng. Công trình đã hệ thống hóa cấu trúc tạo hình gồm hoa văn dân tộc, hình ảnh chủ đề và chân dung lãnh tụ, đồng thời phân tích quy luật chuyển biến phong cách đồ họa nét qua 60 năm phát triển của tiền giấy cách mạng Việt Nam. Luận án mang lại giá trị lý luận học thuật cho ngành mỹ thuật và đóng góp cơ sở thực tiễn phục vụ công tác định hướng, thiết kế các hệ thống tiền tệ quốc gia trong tương lai.