Chương 1 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI VỀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI 1. Tô Hoài và những sáng tác về đề tài miền núi 1. Vài nét về tiểu sử và con người nhà văn Tô Hoài * Về tiểu sử Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/9/1920 (tức 16/8 Canh Thân). Quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.
Ông sinh ra và lớn lên ở quê ngoại: làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ - nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức. Trong hoạt động nghề nghiệp Tô Hoài còn sử dụng nhiều bút danh khác như: Mắt Biển, Mai Trang, Duy Phương, Hồng Hoa (dùng cho viết báo). Sinh trưởng trong một gia đình nghèo làm nghề dệt lụa thủ công ở Nghĩa Đô, hồi nhỏ Tô Hoài đã theo mẹ, theo chị vào Hà Nội, đến các cửa hiệu tơ lụa ở Hàng Đào, Hàng Ngang.
Tô Hoài chỉ được học hết bậc tiểu học, sau đó phải đi làm nhiều nghề để kiếm sống: dạy trẻ, làm kế toán, bán giầy, thư kí hiệu buôn. Chính hoàn cảnh xuất thân và những trải nghiệm sâu sắc về cuộc sống đã trở thành nguồn tư liệu quý giá và khơi dậy cảm hứng cho Tô Hoài tạo nên những tác phẩm có giá trị nhân văn cao đẹp về sau này. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước đang phải gồng mình chống lại ách áp chế của chế độ phong kiến thực dân, hơn ai hết Tô Hoài là người tận mắt chứng kiến, thấu hiểu và đồng cảm với nỗi khổ của người dân, thực tế đó đã hướng ngòi bút của Tô Hoài vào con đường tố cáo hiện thực xã hội đen tối lúc bấy giờ. Những sáng tác đầu tiên của ông được đăng trên “Hà Nội tân văn” và “Tiểu thuyết thứ Bảy” vào cuối những năm 30.
Tô Hoài sớm ý thức về thời cuộc và quyết định đi theo lí tưởng cách mạng. Năm 1938, trong thời kì Mặt trân Dân chủ, Tô Hoài tham gia phong trào ái hữu thợ dệt, làm thư kí ban trị sự Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông. Rồi tham gia phong trào thanh niên phản đế. Năm 1943, ông gia nhập Hội văn hóa Cứu quốc tuyên truyền Việt Minh, 12 c viết báo bí mật.
Đây là một bước ngoặt quyết định trong cuộc đời cầm bút của Tô Hoài. Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài tham gia phong trào Nam Tiến, rồi lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc. Từ 1951 ông về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam. Sau ngày hòa bình lập lại, trong Đại hội Nhà văn lần thứ nhất, 1957, ông được bầu làm Tổng thư kí của Hội.
Từ 1958 đến 1980 ông tiếp tục tham gia Ban chấp hành, rồi Phó tổng thư kí Hội Nhà văn Việt Nam. Từ 1966 đến 1996 ông đảm nhiệm chức Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội và nhiều chức trách xã hội khác. Với những đóng góp lớn lao cho nền văn học nước nhà, Tô Hoài đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương trong hoạt động Cách mạng và giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996 về văn học nghệ thuật. Ngày 6/7/2014 nhà văn Tô Hoài đã trút hơi thở cuối cùng, trở về với vòng tay của đất mẹ yêu thương, sự ra đi của nhà văn để lại mất mát lớn trong lòng độc giả và trong làng văn học.
*Về con người Con người Tô Hoài hội tụ được nhiều tính cách tưởng như trái ngược: sắc sảo, dí dỏm, dễ tính nhưng lại điềm tĩnh, ít nói, thích giấu mình đi nhưng luôn có mặt khi cần thiết. Ông nói năng có duyên lại nhạy cảm, ông mực thước mà vẫn đào hoa, và đào hoa một cách mực thước. Đặc biệt Tô Hoài là người biết đối nhân xử thế, sống độ lượng và bản lĩnh. Tô Hoài còn là người có khả năng quan sát tinh tế, nhạy bén như nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nhận xét: “Tô Hoài lõi đời, sành sỏi, con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt” [34, tr.
Bản thân Tô Hoài cũng tự nhận thấy: “Tôi là người chịu khó học hỏi” [24, tr. 196], đúng như vậy những kiến thức Tô Hoài có được do ông chăm chỉ đọc sách và trải nghiệm thực tế trong cuộc sống. Tô Hoài là pho từ điển sống về nhà văn, về đời sống muôn mặt, về kinh nghiệm viết văn “có lẽ trước ông và sau ông ít ai có sức viết và tài viết như thế” [34, tr. Tô Hoài là tấm gương của một người lao động có tài năng, có bản sắc và tự tin vào công việc bình dị mà cao đẹp của mình.
Những thành tựu đặc sắc cùng với những kinh nghiệm quý báu của ông trong sáng tạo nghệ thuật là những đóng góp quan trọng đối với nền văn học mới. Đề tài miền núi trong sáng tác của Tô Hoài Tô Hoài là người nghệ sĩ có ý thức lao động nghệ thuật nghiêm túc. Hơn nửa thế kỉ sáng tạo nghệ thuật, Tô Hoài đã để lại cho nền văn học nước nhà một khối lượng tác phẩm đồ sộ với gần 200 đầu sách bao gồm nhiều thể tài khác nhau như tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí, phóng sự, lí luận, kinh nghiệm sáng tác. Sáng tác của Tô Hoài không chỉ dồi dào về số lượng mà còn có chất lượng nghệ thuật cao.
Nhiều tác phẩm của ông đã dược tặng các giải thưởng cao quý như: Truyện Tây Bắc (Giải nhất tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam, năm 1956), Miền Tây (Giải thưởng Hội Nhà văn Á - Phi, năm 1970), Quê nhà (Giải A, giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam, năm 1980). Sáng tác của Tô Hoài có những đóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà trước và sau cách mạng chủ yếu trên các mảng đề tài chính: Truyện về làng quê, truyện viết cho thiếu nhi, truyện về miền núi, truyện hồi ức kỉ niệm. Trước Cách mạng tháng Tám hầu hết các tác phẩm của Tô Hoài đều viết về làng quê. Đó là làng quê nghèo vùng “kẻ bưởi”, nơi ông đã sinh ra và lớn lên.
Dưới ngòi bút tài năng, tinh tế của Tô Hoài cuộc sống và con người nơi đây hiện lên một cách chân thực, sinh động qua các tác phẩm: Nhà nghèo, Giăng thề, Quê người, Xóm giếng, Cỏ dại, Mười năm, Quê nhà. Với những sáng tác này Tô Hoài đem đến cho người đọc hình dung đầy đủ, rõ nét về cuộc sống nghèo đói, bị áp bức bóc lột nặng nề của những con người thôn quê Việt Nam những năm trước cách mạng. Bên cạnh các sáng tác về làng quê, Tô Hoài còn có các sáng tác dành cho thiếu nhi. Tiêu biểu là các tác phẩm: Dế Mèn phiêu lưu kí, Trê và Cóc, Ông Trạng Chuối, Đám cưới Chuột, Chuột thành phố, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử, Kim Đồng, Vừ A Dính.
Mỗi một truyện viết cho thiếu nhi của Tô Hoài đều mang ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc. Ông là cây bút hàng đầu của nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Truyện hồi ức, kỉ niệm cũng là một mảng sáng tác nổi bật của Tô Hoài. Nhiều tập hồi kí đặc sắc gắn với tên tuổi Tô Hoài như: Cỏ dại, Tự truyện, Cát bụi chân ai, Chiều chiều.
Đọc hồi kí của Tô Hoài người đọc không chỉ hiểu hơn về con người và tài năng Tô Hoài, hiểu hơn về thời đại ông sống mà người đọc còn hiểu thêm về cuộc sống quanh mình. 14 c Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng, sáng tác đa dạng nhiều thể loại, nhịp độ sáng tạo nghệ thuật của ông cũng tăng tiến cả về số lượng và phẩm chất nghệ thuật. Tô Hoài không bó hẹp nội dung và đối tượng phản ánh trong phạm vi của một vùng dân nghèo ngoại thành Hà Nội nơi ông từng gắn bó mà ông còn hướng đến một không gian rộng lớn, đến với cuộc sống của nhiều lớp người, nhiều vùng đất khác nhau, nổi bật nhất là miền núi Tây Bắc, Việt Bắc. Tô Hoài “là người đầu tiên đặt viên gạch xây nền cho văn học viết về các dân tộc ít người” [34, tr.
Sáng tác đầu tiên về đề tài miền núi là tập truyện ngắn Núi Cứu quốc (1948). Ở tác phẩm này ông đã thể hiện được cuộc sống vất vả, túng thiếu nhưng giàu tình nghĩa với cách mạng, cũng như ý chí quyết tâm chiến đấu của đồng bào miền núi. Tuy nhiên, đây đó trong tác phẩm người đọc dường như vẫn thấy Tô Hoài còn thể hiện cái nhìn xa lạ với miền núi. Trong quá trình thâm nhập thực tế, Tô Hoài ngày càng có ý thức gắn bó, tìm hiểu đời sống của quần chúng nên những nhược điểm trong sáng tác về miền núi trước đó đã dần được khắc phục.
Đặc biệt tập Truyện Tây Bắc (1953) đã đánh dấu bước chuyển quan trọng của nhà văn cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Qua tác phẩm này, Tô Hoài đã miêu tả thành công quá trình vận động cách mạng của đồng bào Việt Bắc trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Hơn mười năm sau tập Truyện Tây Bắc, Miền Tây ra đời là một cố gắng đáng ghi nhận của ngòi bút Tô Hoài khi viết về đề tài miền núi. Miền Tây là sự tiếp nối và quy tụ mọi thành tựu của Truyện Tây Bắc.
Miền Tây đã mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực trên một xu hướng khái quát hóa nghệ thuật cao hơn. Tô Hoài đã dựng lên bức tranh chân thực về cuộc sống và con người miền Tây trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Tiếp tục đi sâu vào đề tài miền núi, tài năng nghệ thuật của Tô Hoài càng về sau càng được phát huy và khẳng định qua nhiều tác phẩm có giá trị khác như: Xuống làng (1951), Tào Lường (1955), Nhật kí vùng cao (1969), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Họ Giàng ở Phìn Sa (1984), Nhớ Mai Châu (1988). Tóm lại, Tô Hoài là nhà văn luôn có những cố gắng tìm tòi, khám phá trong sáng tạo nghệ thuật. Đó là yếu tố góp phần làm nên sức hấp dẫn, sức sống và ý nghĩa 15 c lâu bền ở tác phẩm của ông đối với đời sống tinh thần bạn đọc nhiều thế hệ.
Những sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi góp phần khẳng định vị trí của ông trong làng văn học Việt Nam với một phong cách nghệ thuật vừa mang nét riêng vừa đậm đà bản sắc dân tộc. Quan niệm nghệ thuật về con người của Tô Hoài trong những sáng tác về miền núi Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người.