mở đầu có viết: Ngạn hữu vân, cổ nhân vân, cố viết… như câu: Tác xá đạo bàng tam niên bất thành (Làm nhà bên đường ba nămkhông xong) (bức 16)… Tôi xếp vào mục điển cố có nguồn gốc từ văn học dân gian. Như vậyphần phân loại theo cách sử dụng gồm 19 điển (Văn học dân gian và về sách Binh pháp), chiếm 17,27%. Còn lại tôi vẫn tuân theo cách phân chia của Đoàn Ánh Loan, phần này có 91 điển, chiếm 82,83%. - Phân loại điển cố theo cách hiểu: Hiểu điển cố theo nghĩa rộng và hiểu điển cố theo nghĩa hẹp.
Nghĩa hẹp: bao gồm những điển cố dùng văn, thi liệu có 50 điển cố , chiếm 45,45%. Nghĩa rộng: bao gồm những điển cố thêm cả việc mượn những từ hay nhóm từ lấy ra từ những câu truyện trong Kinh, Sử… có 60 điển cố , chiếm 54,54%. - Phân loại điển cố theo mục đích sử dụng: chia lam 12 loại cơ bản. + Ca ngợi những vị vua hiền, các triều đại thịnh trị trong lịch sử Trung Quốc, có 4 điển cố , chiếm 3,63%.
+ Kéo dài thời gian hoà hoãn bằng việcnói về nỗi oan ức của ta và mong được chuộc lỗi, có 5 điển cố , chiếm 4,54%. + Trách nhiệm của kẻ làm Thiên tử có 13 Điển cố, chiếm 11,82%. + Khuyên tướng lĩnh nhà Minh, phân tích lẽ đúng sai, việc thất đắc có 18 điển cố, chiếm 16,36%. + Khiêu chiến, cảnh cáo có 4 Điển cố, chiếm 3,64%.
+ Tố cáo tội ác, vạch trần bộ mặt xâm lược của quân Minh có 18 Điển cố, chiếm 16,36%. + Nói về chữ tín và chữ thành có 7 Điển cố, chiếm 6,36%. + Khó khăn của địch có 10 Điển cố, chiếm 9,69%. + Khuyên dụ lính hàng có 16 Điển cố, chiếm 14,54%.
11 + Việc làm chính nghĩa và trách nhiệm của quân ta có 7 Điển cố, chiếm 6,36%. + Đạo đức của người quân tử, Thánh nhân có 5 Điển cố, chiếm 4,54%. + Bàn hoà ước có 3 Điển cố, chiếm 2,72%. Theo thứ tự sắp xếp của Nguyễn văn Nguyên với 62 bức thư với bản chữ.
Kết quả khảo sát có được như sau: Về mức độ bức thư có điển cố thống kê cho thấy có bức có, có bức không. Tức là không phải tất cả các bức thư đều có điển cố. Nhưng số không có là rất ít, đó là 13 bức: 10, 11, 12, 18, 19, 24, 39, 47, 48, 55, 59,60, 62 chiếm 20,9% trong tổng số 62 bức thư. Còn lại 49 bức thư có điển cố, chiếm79,1%.
Đối với những bức có điển cố, có bức có nhiều, có bức có ít điển cố. Ít nhất là một điển cố có ở 19 bức thư: 3, 4, 6, 13, 14, 16, 20, 21, 22, 23, 25, 27, 29, 30, 38, 46, 49, 57, 58 chiếm 30,6%. Những bức thư sử dụng nhiều điển cố, từ bốn đến năm hoặc hơn thế như các bức thư 8, 26, 31, 32, 34, 35, 36… Nhiều nhất là ở bức thư số 33 có 11 điển cố. Những bức không dùng điển cố cố thường là những bức chứa nội dung ngắn như để thông báo, như thông báo về việc con cháu nhà Trần dâng biểu cầu phong cùng sứ giả đi sang Trung Quốc (bức 10); Thông báo về việc sửa chữa cầu đường đã xong cho các vị Hình đại nhân và các vị Đả Công, Lương Công (bức12); Báo cho Vương Thông việc quân ta dời đến bên thành Bắc Giang để tiện cho việc hoà ước (bức 18)… Còn những bức sử dụng nhiều điển cố thường nhằm mục đích liệt kê tội ác của giặc (44, 52…), phân tích lẽ đúng sai (31, 36…), dẫn về nhânvật thiện ác trong lịch sử Trung Quốc (26, 33.v… Về số lượng sử dụng 78 điển cố, kể cả những bức sử dụng lặp thì có 110 lần sử dụng điển cố có nghĩa là một số điển cố được sử dụng nhiều lần ở các bức thư khác nhau như dùng điển: để chỉ sự hèn nhát của giặc, Nguyễn Trãi sử dụng điển cố “Cân quắc chi nhục” (nhục khăn yếm) vốn là mượn chữ “cân quắc ” là đồ trang sức của đàn bà trong sách Tấn thư kể về truyện Gia Cát Lượng mang quân đi đánh Nguỵy, khiêu khích nhiều mà Tư Mã Ý không chịu ra đánh.
Lượng bèn mang đến cho y đồ dùng khăn yếm để làm nhục,ý thì có ở các bức 7, 33; điển 12 điếu dân phạt tội có ở các bức 8, 26, 28; điển nói về chữ tín xuất hiện trong các bức 15, 17, 22, 23; điển Hán Đường hiếu đại Thang vũ điếu phạt có ở tới 6 bức thư: 31, 40, 52, 53, 56,… Ngay cả trong một bức thư, một điển cố cũng có thể được dùng lặp lại như điển về Bách Lý Hề và Lý Tả Xa là hai nhân vật sử tài giỏi lại biết thời thế để nhằm thức tỉnh Thái đô đốc, điển này có ở bức 36 dùng lại hai lần… Về nguồn gốc trích dẫn điển cố: Điển cố có nguồn gốc từ Truyện, Sử bộ: Kể về sự kiện hoặc nhân vật lịch sử, một triều đại lịch sử. Đây là loại chiếm số lượng cao nhất so với các điển cố có nguồn gốc khác với 60 lần (54,54%). Sau đó là điển có nguồn gốc từ Kinh bộ mà chủ yếu lấy trong sách Mạnh Tử, Trung Dung, Luận Ngữ, Kinh thi với 26 lần (23,63%). Nguồn gốc từ văn học dân gian cũng khá phong phú như thành ngữ, tục ngữ, phương ngôn với 15 lần (13,64%).
Mượn ý hoặc cả câu thơ cổ với 2 lần (1,82%). Rút từ sách Binh pháp với 7 lần (1,82%). Các điển có nguồn gốc từ Kinh- Sử truyện- Thơ ca- Binh pháp chủ yếu là lấy trong sách Trung Quốc, ở giai đoạn chưa được Việt hoá. Còn điển có nguồn gốc từ văn học dân gian có cả của Trung Quốc cả của nước Nam nhưng nguồn gốc sâu xa vẫn bắt nguồn từ vùng Hoa Hạ này Tuy nhiên nó đã được việt hoá nhiều lâu ngày sử dụng thành khẩu ngữ mà người ta không phân biệt được rõ ràng từng câu đâu là của người phương Bắc đâu là của người phương Nam.
Về phân loại theo cách sử dụng: Những điển cố sử dụng thi, văn liệu và các điển tích (thông qua từ nhóm từ được lấy ra từ các câu truyển trong Kinh, Sử… về các nhân vật sử, các triều đại…) gần tương đương nhau. Điều này chứng tỏ việc hiểu và sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi đối với cả hai loại này là rất hài hòa. Về phân loại theo mục đích sử dụng điển cố theo thống kê ta thấy: Những Điển cố nói về việc tố cáo tội ác của giặc, vạch trần bộ mặt xâm lược của địch (16,36%), khuyên tướng lĩnh nhà Minh (16,36%), khuyên dụ lính hàng (14,54%), trách nhiệm của Thiên tử (11,82%), khó khăn của giặc chiếm số 13 lượng cao hơn cả. Điều này phù hợp chứng tỏ việc sử dụng Điển cố là nhắm đúng mục đích đề ra, nhằm chỉ rõ bộ mặt thật của quân nhà Minh thực chất là quân xâm lược, chỉ cho chúng lẽ đúng sai việc mất còn để chúng tự nhận sai về mình, cùng với những khó khăn chúng mắc phải sẽ nhanh chóng bị thất bại, từ đó khiến quân địch phải lung lay về tinh thần lần lượt đi tới chỗ thất bại.
Đây cũng chính là thuật tâm công (đánh bằng tấm lòng) của Nguyễn Trãi. Về tính chất của những điển cố có nguồn gốc Hán Việt thường tương đối dễ hiểu và phổ biến. Đối với những Nho sĩ xưa phải thông thạo Kinh sử thì khi đọc những bức thư này có lẽ không khó khăn gì. Mà mục đích chính Nguyễn Trãi hướng tới là tướng soái nhà Minh “từng đọc Thi, Thư” (bức 46) thì việc hiểu điển cố là điều nắm trong lòng bàn tay.
Về mức độ trọn vẹn khi dẫn điển đa số là trích dẫn không hoàn toàn thường mượn ý, hình ảnh, tên đất, tên người, tên triều đại… sau đó gợi mở ra ý nghĩa cần dùng. Khi trích dẫn trọn vẹn, thường gặp ở điển có nguồn gốc từ Kinh bộ hay văn học dân gian.2 Nghệ thuật sử dụng điển cố trong văn ngoại giao của Nguyễn Trãi: Xét trong 62 bức thư mà có đến 110 lần xuất hiện điển cố, tức là bình quân mỗi bức gồm hai điển cố, nếu không kể đến 15 bức không xuất hiện điển cố thì bình quân mỗi bức khoảng gần 3 điển cố. Cùng với 78 điển cố khác nhau thuộc năm nhóm nguồn gốc, có thể nói nguồn điển cố mà Nguyễn Trãi dùng rất phong phú, từ văn học dân gian đến cả kinh, sử. Điều đó nói nên Nguyễn Trãi là người rất am tường, vốn văn hoá uyên bác, khả năng vận dụng khéo léo, biết nhấn mạnh, xoáy sâu khiến quân giậc không thể coi thường.
Hơn nữa đó là những tích để lại của chính cha ông họ, những câu truyện trong lịch sử nước họ. Khi bọn Phương Chính bị ta tiến công chúng vì sợ mà không ra đánh Nguyễn Trãi đã chỉ thẳng vào mặt chúng: “Nhĩ nãi bế thành cố thủ, chính như nhất lão ẩu, hà da? Ngô khủng nhữ đẳng bất miễn cân quắc chi nhục hĩ” (Thế mà ngươi vẫn cứ đóng cửa thành bền giữ như mụ già thế cớ làm sao? Ta e bọn ngươi không khỏi cái nhục khăn yếm vậy). Dùng truyện khi Gia Cát Lượng khiêu chiến với Tư Mã Ý ở sông Vị Thuỷ để làm nhục y ghi trong sách Tấn Thư qua đó gián tiếp 14 khiêu khích bọn Phương Chính (bức 7). Như thế Nguyễn Trãi trước đã rất khôn khéo vừa là tỏ ý ýtôn trọng lịch sử Trung Quốc nhưng sâu xa hơn là lấy chính những tuyên ngôn, những chiến tích mà bọn giặc Minh tỏ ra nhân nghĩa mà kì thực chúng đã dẫm nát lên chính những lời nhân nghĩa đó của cha ông mình.
Còn khi bọn chúng lớn tiếng hô khẩu hiệu “phù Trần diệt Hồ” thì ngay sau đó Nguyễn Trãi đưa hàng loạt dẫn chứng để bẻ gẫy luận điệu gian trá của giặc đồng thời vạch trần bản chất xâm lược của chúng. Trong thư “Lại thử trả lời Phương Chính” Nguyễn Trãi viết: “Nhĩ quốc vãn nhân Hồ thị thất đạo, giả dĩ điếu phạt vi danh, tế kì bạo lệ chi thực, xâm đoạt ngã cương thổ ngư liệp ngã sinh dân” (nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo mượn tiếng điếu dân phạt tội kì thực làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta). Đồng thời tỏ thái độ cương quyết, dùng lí lẽ vững chắc, điển cố xác đáng để bọn chúng tự nhận lỗi về mình.