CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới Nghề chăn nuôi lợn ra đời rất sớm, cách đây một vạn năm chăn nuôi lợn đã xuất hiện và phát triển ở châu Âu và Châu Á. Sau đó, khoảng thế kỷ XVI, bắt đầu phát triển ở châu Mỹ và thế kỷ XVIII phát triển ở châu Úc. Kỹ thuật chăn nuôi được hoàn thiện theo thời gian, đặc biệt từ thế kỷ XX đến nay chăn nuôi lợn đã phát triển theo hướng sản xuất công nghiệp cho năng suất và chất lượng cao. Hiện nay, chăn nuôi lợn đã trở thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia.
Ở nhiều nước, chăn nuôi lợn có công nghệ cao và có tổng đàn lợn lớn như: Trung Quốc, Mỹ, Braxin, Đức, Nga, Anh, Pháp, , Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Ý, Úc,. Diễn biến số đầu lợn của 10 nước đứng đầu thế giới qua các năm (con) STT Quốc gia 2010 2011 2012 2013 2014 1 Trung Quốc 476.600 6 Tây Ban Nha 25.000 Toàn thế giới 973.755 Nguồn: Faostat (2015) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Qua Bảng 1.1 cho thấy gần một nửa đàn lợn trên thế giới tập trung ở Trung Quốc. Trong khi đó Việt Nam chúng ta đứng ở vị trí thứ 5 trong 5 nước dẫn đầu trên thế giới. Theo số liệu thống kê đến tháng 4/2017 đàn lợn nước ta có hơn 28 triệu con, sản lượng thịt đạt hơn 2 triệu tấn.
Ở các nước tiên tiến có chăn nuôi lợn phát triển lợn theo hình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao. Tuy vậy, đàn lợn trên thế giới phân bố không đồng đều ở các châu lục. Có tới 79% số đầu lợn được nuôi ở châu Á và Âu, khoảng 21% ở các châu lục khác. Trong đó, tỷ lệ đàn lợn được nuôi nhiều ở các nước có chăn nuôi lợn tiên tiến.
Sản phẩm của nghề chăn nuôi lợn được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thế giới (trừ ở các các nước theo tín ngưỡng Hồi giáo). Giá trị dinh dưỡng cao của thịt lợn là nguồn thực phẩm tốt cho con người, không những thế nghề chăn nuôi lợn đã đem lại lợi nhuận không nhỏ cho nền kinh tế của các nước này. Phân bố đàn lợn thế giới năm 2014 Nguồn: Faostat (2015) Nâng cao năng suất, chất lượng con giống trong quá trình sản xuất lợn thịt luôn là yếu tố hàng đầu, then chốt được các nhà nghiên cứu, các tập đoàn chăn nuôi của mọi quốc gia trên thế giới quan tâm. Việc nghiên cứu chọn lọc dòng cao sản và lai tạo tìm ra các tổ hợp lai có tỷ lệ nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp và độ dày mỡ lưng thấp đã thành công ở hầu hết các nước có nền chăn nuôi tiên tiến như: Mỹ, Đức, Canada, Anh, Hà Lan, Đan Mạch và Úc.
Trên thế giới, người ta không chỉ quan tâm đến các chỉ tiêu về số lượng như: khả năng tăng khối lượng, mức độ tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ thịt nạc. mà còn đặc biệt quan tâm đến các chỉ tiêu về chất lượng thịt như: Màu sắc thịt, tỷ lệ mỡ giắt, độ giữa nước của thịt cũng như hương vị thịt. Để giải quyết vấn đề này, lai tạo các dòng đực lai để có thể kết hợp được nhiều ưu điểm về chất lượng thịt của các giống là hướng chủ đạo, đặc biệt là trong những công thức lai cuối cùng để tạo ra lợn Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 thương phẩm. Hầu hết những công ty lớn trên thế giới như PIC (Pig Improvement Company) của Mỹ, Danbred của Đan Mạch, Flanders Pigbreeders Association của Bỉ đều nghiên cứu và đưa ra thị trường nhiều loại đực lai riêng biệt cho các công thức lai giống khác nhau.
Phương thức chăn nuôi hiện nay của các nước trên thế giới có ba hình thức cơ bản đó là: Chăn nuôi quy mô công nghiệp thâm canh công nghệ cao; Chăn nuôi trang trại bán thâm canh; Chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ và quảng canh. Phương thức chăn nuôi quy mô lớn thâm canh sản xuất hàng hóa chất lượng cao chủ yếu ở các nước phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc và một số nước ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ La Tinh. Chăn nuôi công nghiệp thâm canh công nghệ cao về cơ giới và tin học được áp dụng trong chuồng trại, cho ăn, vệ sinh, thu hoạch sản phẩm, xử lý môi trường và quản lý đàn. Các công nghệ sinh học và công nghệ sinh sản được áp dụng trong chăn nuôi như nhân giống, lai tạo nâng cao khả năng sinh sản và điều khiển giới tính.
Chăn nuôi bán thâm canh và quảng canh phần lớn tại các nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ La Tinh và các nước Trung Đông. Trong chăn nuôi quảng canh, tận dụng, dựa vào thiên nhiên, sản phẩm chăn nuôi cho năng suất thấp nhưng được thị trường xem như là một phần của chăn nuôi hữu cơ. Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam Số lượng đầu con, sản lượng thịt và phân bố đàn lợn Ở Việt Nam chăn nuôi lợn xuất hiện từ rất lâu đời và trở thành nghề truyền thống của người dân. Tuy nhiên chăn nuôi lợn ở nước ta chỉ thực sự phát triển từ những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI.
Việc nâng cao chất lượng giống và kỹ thuật chăn nuôi đảm bảo năng suất và chất lượng thịt luôn có xu hướng ngày một tăng.2 cho thấy số đầu lợn qua các năm từ năm 2010 đến năm 2013 có xu hướng giảm, từ năm 2014 đến 2016 số lượng đầu lợn tăng lên, sản lượng thịt lại có xu hướng tăng lên theo từng năm. Cụ thể năm 2013 số đầu lợn giảm 4,05% so với năm 2010. Từ năm 2014 đến năm 2016, số đầu lợn có xu hướng tăng lên, đồng thời sản lượng thịt cũng tăng lên. Cụ thể năm 2015, số đầu lợn tăng 5,66% so với cùng kỳ năm 2014.
Năm 2016, số đầu lợn liên tục tăng thêm 4,77% so với cùng kỳ năm 2015. Sản lượng thịt tăng từ 3.036 nghìn tấn năm 2010 lên 3. Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê tại thời điểm ngày 01 tháng 10 qua các năm, từ năm 2010 đến 2016 thì số lượng đầu con và sản lượng thịt hơi xuất chuồng của lợn như sau: Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Bảng 1. Số lượng đầu con và sản lượng thịt lợn ở Việt Nam qua các năm Số lượng Sản lượng thịt Năm (con) (tấn) 2010 27.600 Nguồn: Tổng cục thống kê (2016 ) Số lượng đàn lợn có xu hướng tăng lên, tuy nhiên cơ cấu đàn có ít sự thay đổi cụ thể được thể hiện qua Bảng 1.
Diễn biến cơ cấu đàn lợn năm 2014 đến 2016 2014 2015 2016 Năm Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ (con) (%) (con) (%) (con) (%) Lợn Nái 3.314 100,00 Nguồn: Tổng cục thống kê (2016) Nước ta là một nước có kiểu khí hậu nhiệt đới, ở nhiều vùng khác nhau cũng có nhiều kiểu địa hình và tiểu khí hậu khác nhau. Với mỗi điều kiện khác nhau thì đàn lợn phân bố trong từng vùng cũng có sự khác nhau đáng kể. Dưới đây là bảng phân bố đàn lợn theo vùng sinh thái vào năm 2016. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Bảng 1.
Bảng phân bố đàn lợn theo vùng sinh thái năm 2016 Vùng sinh thái Số lượng lợn (con) Tỷ lệ (%) Đồng bằng sông Hồng 7.398 25,50 Miền núi và Trung Du 7.528 24,68 Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung 5.281 6,55 Đông Nam Bộ 3.493 11,55 Đồng bằng sông Cửu Long 3.971 13,08 Tổng cả nước 29.314 100,00 Nguồn: Tổng cục thống kê (2016) Thông qua Bảng 1.4 cho chúng ta thấy số lượng đầu lợn phân bố không đồng đều, chỉ tập trung ở một số khu vực phát triển và có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển như: Đồng bằng sông Hồng 25,5%, Miền núi và Trung Du 24,68%, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung 18,64%, Đồng bằng sông Cửu Long 13,08%. Cơ cấu nguồn giống Ngành chăn nuôi lợn của Việt nam hiện nay sử dụng nguồn giống lợn ngoại là chủ yếu, trong đó bao gồm cả giống lợn ngoại thuần (52,83%) và giống ngoại lai (47,17%). Năm 2014 có tổng đàn lợn là 26,7 triệu con. Cơ cấu chủng loại giống lợn tại các cơ sở sản xuất giống lớn (%)* Chủng loại giống Tỷ lệ so với chủng loại (%) Tỷ lệ so với tổng đàn (%) Lợn ngoại 100,00 92,93 Ngoại thuần 52,83 49,09 Ngoại lai (ngoại lai ngoại) 47,17 43,83 Lợn lai (nội lai ngoại) 100,00 5,62 Móng cái lai ngoại 97,10 5,46 Nội lai ngoại khác 2,90 0,16 Lợn nội 100,00 1,45 Móng Cái 83,43 1,21 Nội khác 16,57 0,24 Nguồn: Viện Chăn nuôi năm (2014) *Ghi chú: Cơ cấu giống không bao gồm lợn giống được sản xuất trong các nông hộ.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Tỷ lệ giống lợn nội và lợn nội lai chiếm khoảng 7% so với tổng đàn lợn của cả nước. Trong đó, giống lợn được sử dụng phổ biến nhất vẫn là giống lai giữa lợn Móng Cái và giống lợn ngoại nhập. Theo thống kê của Viện Chăn nuôi (2014), cả nước hiện có khoảng 195 cơ sở sản xuất giống lợn cụ kị (GGP) và ông bà (GP) với tổng đàn nái khoảng 73,5 ngàn con, trong đó có 10 cơ sở, 4,4 ngàn lợn nái cụ kị và ông bà thuộc quyền quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (chiếm 5,9% đàn GGP và GP của cả nước). Hệ thống sản xuất giống lợn hiện nay được quản lý theo hai hình thức: Sơ đồ hình tháp 4 cấp, và Sơ đồ hình tháp 3 cấp.
Hệ thống sản xuất theo sơ đồ hình tháp 4 cấp: là hình thức chăn nuôi hướng tới sản phẩm đảm bảo an toàn thực phẩm từ khâu giống - nuôi dưỡng - chế biến - thị trường. Từ 1 trại cụ kị (GGP) thường có 5 - 6 giống gốc ban đầu, theo phả hệ ghép đôi giao phối, nhân tiếp 5 - 7 trại giống cấp ông bà (GP) - và tiếp đến nhân giống sang cấp giống bố mẹ (PS). Trại lợn để nuôi thương phẩm là cấp cuối cùng đang hình thành và phát triển nhanh. Trong trường hợp sản xuất ổn định, lợn nái GGP thường duy trì ở mức 10% số lợn nái GP, và tương tự lợn nái GP duy trì mức 10% lợn nái PS.