CHƯƠNG 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ MỎ MÔNG DƯƠNG-3: Sơ đồ công nghệ sản xuất Công tác khoan nổ mìn: Nổ mìn để làm tơi tất đá là hoạt động không thể thiếu trong khai thác than. Tại mỏ than, hàng ngày đều thực hiện nổ mìn với khối lượng từ 500-5000kg trong khoảng thời gian nhất định. Nổ mìn lần 1: để bắn tơi đất đá ở tầng khai thác tạo điều kiện cho máy xúc thực hiện xúc tải lên ô tô. SV: Lê Quốc Anh 20 GVHD: TS.
Nguyễn Phương Đông Đồ án tốt nghiệp Trường ĐH Mỏ - Địa Chất Nổ mìn lần 2: phá đá quá cỡ để tạo kích thước phù hợp với thiết bị xúc bốc. Thông thưởng nổ mìn phá đá quá cỡ với chỉ tiêu thuốc nổ 0,13 – 0,15kg/m3. Xúc và vận chuyển đất đá thải đến bãi thải. Sau khi nổ mìn đất đá được làm tơi, sau đó máy xúc sẽ chuyển lên ô tô đến bãi thải.
Phần đá quá cỡ sẽ thực hiện khoan lỗ nhỏ, nổ mìn tạo kích thước có thể xúc lên ô tô được. Xúc và vận chuyển than nguyên khai đến bãi sàng tuyển than. Than được máy xúc chuyển lên ô tô đến khu vực sàng tuyển. Xúc và vận chuyển than sạch ra cảng tiêu thụ.
Việc vận chuyển ra cảng tiêu thụ sẽ dài khoảng 2km trên đường vận chuyển chuyển dùng vận chuyển than của mỏ song song với đường 18B và cắt ngang, nằm dưới đường 18A. Sàng và chế biến phân loại than. Sàng phân loại than bằng máy tạo ra các hạt nhỏ, mịn, khô.6 Hiện trạng chất lượng môi trường các thành phần xử lý 1.1 Môi trường không khí Đối với việc khai thác than, tùy từng khu vực và thành phần bụi khác nhau. Tại khu vực bãi thải: thành phần bụi chủ yếu là bụi đất đá.
Tại khu vực khai thác: Bụi than và bụi đất đá. Bụi tạo ra do hoạt động bốc, bốc xúc và vận chuyển đất đá than: Theo thống kê, khi khai thác 1000 tấn than ở mò hầm lò tạo ra 11-12 kg bụi. Lượng bụi tạo ra do hoạt động vận chuyển than là 14,91 tấn. Kết quả quan trắc môi trường không khí cho thấy các thông số đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 05:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh.
Kết quả quan trắc mức ồn tương đương Leq tại các vị trí quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 26:2010 – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn. Môi trường vi khí hậu được đặc trưng bởi các yếu tố khí tượng: Nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, áp suất khí quyển,…. Các yếu tố này sẽ gây tác động tổng hợp lên cơ thể người lao động, tới khả năng phát tán các chất ô nhiễm trong môi trường không khí là một trong những tiêu chuẩn đánh giá mức độ tối ưu của môi trường sản xuất. Trong nhiều năm nay hoạt động khai thác, gây nổ mìn khiến một khối lượng lớn khí độc thoát ra từ các vỉa than và đất đá bao quanh như mêtan, butan, sunfuahidro, cacbonoxit…Đặc biệt là khí mêtan với nồng độ và tỷ lệ nhất định rất dễ gây cháy nổ.
Lượng khí CO2 khi sinh ra nổ mìn ước tính là 1. SV: Lê Quốc Anh 21 GVHD: TS. Nguyễn Phương Đông Đồ án tốt nghiệp Trường ĐH Mỏ - Địa Chất + Tại các khu sàng, nghiền chế biến than lại sảy ra quá trình oxy hóa làm suy giảm lượng ôxi cần thiết để hô hấp (<12%) ảnh hưởng trực tiếp tới các công nhân, và đồng thời làm cho môi trường không khí bị ô nhiễm một khoảng rộng lớn. Sức khỏe người dân không đảm bảo.2 Môi trường đất - Trong giai đoạn xây dựng mỏ đã chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp sang mục đích xây dựng hầm lò.
- Trong giai đoạn khai thác: Về giá trị sử dụng: Trong năm 2005-2015 tiếp tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất của 156.706m² đất nông nghiệp, 2.488m² đất lâm nghiệp sang mục đích chứa thải và mở rộng công trường. Có tác động đáng kể như là: + Mất đi chỗ quen thuộc, thuận tiện, xáo trộn cuốc sống trong một thời gian của những gia đình nằm trong diện giải phóng mặt bằng. + Mất đi nguồn thu nhập nông nghiệp, lâm nghiệp từ khu vực này. + Giảm tính đa dạng sinh học và xáo trộn cảnh quan sinh thái.
+ Nguyên nhân gián tiếp ảnh hưởng đến vấn đề môi trường, xã hội do hộ dân chuyển đến vùng đất khác. - Gây tác động do bồi lấp và ô nhiễm các vùng lân cận: cùng với sự phát triển về diện tích và khối lượng của các bãi thải, mức độ ô nhiễm và bồi lắng các vùng đất xung quanh cũng gia tăng. Tuy nhiên, việc lan truyền ở mức độ không lớn lắm. - Trong quá trình khai thác bụi có khả năng nhiễm bẩn đất, nhưng thực ra nó đóng vai trò như loại phân bón chậm, do vậy nó có khả năng tăng chất dinh dưỡng cho đất nên các tác động từ bụi đến môi trường đất là không đáng kể.
- Trong giai đoạn thi công và sản xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà trước hết là do nước mưa chảy tràn cuốn trôi các vật liệu vô cơ khó hòa tan (than, mảnh vụn đá, nhựa đường, cát, đất sét…) các sản phẩn đầu mỡ rơi vãi từ trạm nhiên liệu, các thiết bị thi công, các phương tiện vận chuyển đưa xuống dải đất trong khu vực mỏ làm cho kết cấu và thành phần của đất thay đổi. - Các hiện tượng xói mòn, bồi lấp xảy ra khi có mưa to tạo nên dòng chảy qua sườn bãi thải, bãi than làm ảnh hưởng tới môi trường đất là tác động không thể nào tránh khỏi.3 Môi trường nước - Nước mặt Nước thải mỏ sau đó thải ra lạch nước nằm tiếp giáp với khu mỏ trước khi đổ vào sông Mông Dương. Trung tâm Quan trắc và Phân tích môi trường đã tiến hành SV: Lê Quốc Anh 22 GVHD: TS. Nguyễn Phương Đông Đồ án tốt nghiệp Trường ĐH Mỏ - Địa Chất quan trắc, lấy mẫu nước thải của khu mỏ tại 3 vị trí (mỗi vị trí lấy 1 mẫu), lấy mẫu nước mặt tại 5 vị trí (mỗi vị trí lấy 2 mẫu, khoảng cách giữa 2 lần lấy mẫu là 1 giờ) và phân tích trong phòng thí nghiệm.
Theo kết quả quan trắc và đánh giá ở phần hiện trạng môi trường, chất lượng nước mặt trong khu vực bị ảnh hưởng bởi các tác nhân pH, cặn lơ lửng, và Fe từ nguồn nước thải của mỏ. Số liệu cụ thể được thể hiện qua bảng 1.1 dưới đây: Bảng CHƯƠNG 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ MỎ MÔNG DƯƠNG-1: Kết quả phân tích môi trường nước thải mỏ SV: Lê Quốc Anh 23 GVHD: TS. Nguyễn Phương Đông Đồ án tốt nghiệp Trường ĐH Mỏ - Địa Chất Kết quả quan trắc và phân tích nước thải hầm lò mỏ Mông Dương cho thấy: Do đặc trưng địa chất, nước thải ra từ hầm bơm mỏ Đông Bắc Mông Dương có tính axit, pH đo được từ các đợt quan trắc là 5,32 nằm ngoài giới hạn cho phép của QCVN 40:2011/BTNMT. Các thông số ô nhiễm khác vượt quá giới hạn nồng độ tối đa cho phép của QCVN 40:2011/BTNMT, gồm: Chất rắn lơ lửng (TSS); BOD (phản ảnh nồng độ chất hữu cơ); Mn và Fe, trong đó: + Nồng độ chất rắn lơ lửng (TSS) là 782 mg/l, vượt giới hạn cho phép gần 7 lần.
+ Hàm lượng sắt (Fe) là 24,309, vượt giới hạn cho phép 4 – 5 lần. + Hàm lượng mangan (Mn) thường xuyên vượt giới hạn cho phép rất nhiều. + Các thông số khác nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 40:2011/BTNMT, loại B. Bảng CHƯƠNG 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ MỎ MÔNG DƯƠNG-2: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt Kết quả quan trắc môi trường nước mặt cho thấy: Chất lượng nước có sự biến động không đáng kể tại cùng 1 vị trí vào các thời điểm quan trắc khác nhau trong SV: Lê Quốc Anh 24 GVHD: TS.
Nguyễn Phương Đông Đồ án tốt nghiệp Trường ĐH Mỏ - Địa Chất ngày, một số thông số phân tích được như TSS, Fe, BOD5 vượt quá giới hạn cho phép theo QCVN 08:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. Kết quả phân tích phản ánh mức độ ảnh hưởng của nước thải mỏ tới chất lượng nước mặt khu vực. Tại vị trí tiếp nhận trực tiếp nước thải mỏ (lạch nước) có hàm lượng các chất ô nhiễm đạt giá trị cao: + TSS từ 144 – 150 vượt 1,4 – 1,5 lần giới hạn cho phép. + BOD5 từ 28,02 – 29,11 vượt 1,12 – 1,16 lần giới hạn cho phép.
+ Fe từ 2,7115 – 3,2116 vượt 1,36 – 1,6 lần giới hạn cho phép. Nước thải mỏ tại lạch nước khi đổ ra sông Mông Dương làm tăng hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước sông. Tại điểm hợp lưu giữa lạch nước và sông Mông Dương có hàm lượng TSS, BOD 5 và Fe vượt nhẹ giới hạn cho phép theo QCVN 08:2015/BTNMT – Quy chuẩn quốc gia về chất lượn nước mặt. Bên cạnh đó, sông Mông Dương còn là nguồn tiếp nhận của nhiều mỏ khai thác than khác từ thượng nguồn đến hạ nguồn lưu vực sông và chịu ảnh hưởng của các nguồn thải sinh hoạt khu dân cư dọc theo đoạn sông đối với nồng độ TSS, BOD 5, COD, tổng coliform.
Hiện nay, sông Mông Dương không dùng cho các mục đích cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu thủy lợi, hiện tại được các mỏ trong khu vực và địa phương sử dụng phục vụ mục đích tưới nước dập bụi các khai trường, các khu vực chế biến than và đường 18A qua khu dân cư phường Mông Dương. - Nước ngầm Khi khai thác xuống sâu sẽ làm ảnh hưởng đến mực nước ngầm của khu vực, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng trên diện hẹp, cần theo dõi thêm để có các biện pháp xử lý kịp thời.4 Chất thải rắn - Giai đoạn khai thác: + Chất thải rắn – đất đá thải: Giai đoạn khai thác đào hầm lò có khoảng 5.000m3 đất đá thải và khoảng 150.000m3 xít thải được thải bỏ trong quá trình khai thác, và chúng được đem đổ thải. Chất thải rắn giai đoạn này đã làm chuyển đổi mục đích sử dụng của trên 30ha đất trong khu vực và gây ra các tác động nhất định đến môi trường nước, môi trường không khí, môi trường đất cho khu vực xung quanh. - Chất thải sinh hoạt: Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh do công nhân viên trong toàn bộ công ty thải ra trong quá trình làm việc.
Theo tổ chức WHO, lượng rác thải bình quân đầu người tại các nước đang phát triển là 0.3 kg/người/ngày. Tuy nhiên, thời gian làm việc của mỗi người (1 ca tương đương với 1/3 ngày). Do đó lượng rác thải dự báo là 0,1 kg/người/ngày.