CHƯƠNG 1 ‘TONG QUAN VE HỆ THONG Dé BIEN VÀ CUA SÔNG. TINH THANH HOA 11. Tổng quan về hệ thống để cửa sông và để biển. Vang ven nước ta cỏ địa hình tự nhiên thấp trồng, lại thường xuyên chịu tác động của thuỷ triều, bão với nước biển dng cao, sóng to, gió lớn gây ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của nhân dân.
Do vậy, có thể nói hệ thống đẻ biển được hình. thành từ như cầu tit yếu để bảo về din cư và sản xuất của các vũng ven biển. Các tuyến để biển được dip từ nhiề thể ky trước diy vốn ban đầu rit nhỏ bé và được ông cha ta bai trúc để được tuyển dé biển như ngày nay. Đ bién ving đồng bằng Bắc Bộ phần lớn được dip từ đời nhà Trần; để biển Thanh Hoá, Nghệ An được hình thành từ những năm 1930 và phần lớn dé biển và đề cửa sông khu vục miễn Trung được đắp trước và sau năm 1975 Dé biển nước ta không liền tuyến và bị chia cắt bằng nhiều cửa sông lớn nhỏ, các tuyển đê biển thường nối tiếp với các tuyển đề cửa sông dé tạo thành các tuyến khép kin bảo vệ các ving ven biển, ting chiều dài để cửa sông cũng gin xấp xi với chiều đài đề rực tiếp biển, Hiện my ic tuyển để đề biển, để cửa sông tờ Quảng Ni đến Quảng Nam có tổng chiều dai khoảng 1454 km, trong đó có khoảng 853 km để biển, để cửa sông 18 để cắp IM hoặc là để được đầu tư chủ yéu bằng ngân sách trung ương.
Do tính chất thuỷ triểu, mức độ ảnh hưởng của bao lũ, địa hình địa mạo và tiém năng dân sinh kinh tế mà qui mô của dé biển và đê cửa sông cũng có sự khác nhau. Đối với ving ven biển min Trung, những dun cất hình thành ven biển như những con dé tự nhiền để ngăn mặn, chin sóng biển. Ở cửa các con sông ving đồng bằng bắc bộ như cửa sông Lach Tray, Văn Úc, Thái Bình, Ba Lạt, Ninh Cơ, Diy nhờ phù sa bồi đắp mà bãi biển được bồi và lin dẫn ra biển, nhân dân dip dé quai lấn biễn nên hình thành 2, 3 tuyến đề biển, có tuyển mới bảo vệ cho hàng ngân hecta điện tích như để biển Binh Minh (huyện Kim Sơn, tinh Ninh Bình), khu Đình Va (Hải Phòng), để biển Nga Son - tỉnh Thanh Hoá. Ở ving xa của sông, một số nơi bãi biển liên tục bi hạt p,biển lin vào đất liền đe doa đến an toàn của để biển, .để cũng được đắp thành 2 tuyển (tuyển chính và tuyển dự phòng) như một số đoạn để biển Hai Hậu; một số khu vực biển lấn do bãi bi bạ thắp, gây xói lờ bờ như khu vực Hậu Lộc (Thanh Ho), Xuân Hội, im Nhượng (Hi Tinh), Bau Tró (Quảng, Bình), Hoà Duân (Thừa Thiên Huế Tam Thanh (Quảng Nam).
Một số tuyển đề biễn được dip ving khếp kin bảo vệ din nh, kính «8 như tuyển đê biển Hà Nam (Quảng Ninh), để biển đảo Cát Hải (Hải Phòng). “Trong những năm cuối của thập ky 20, được sự quan tâm của Dang, Nhà nước, các cấp ngành và chính quyền địa phương, cùng với sự hỗ trợ của các tô chức. quốc t, các tuyển đ biển đã được cải tạo nông cấp có khả năng chống chịu được bão lũ ở mức độ tốt hơn. Một số dự án đầu tr lớn được thực hiện trong những năm.
gần đây như sau - Từ năm 1993 đến năm 1998, cùng với sự giáp đỡ của Chương trình Lương thực thể giới và đầu tư của Nhà nước thông qua Dự án PAM 4617 đã tập trung khôi. phục, ning cấp được 28 tuyển để xung yêu với tổng chiều đãi 456km để và xây dựng được 224, 3km kẻ để bảo vệ mái dé biển, trồng 478ha cây chắn sóng thuộc các, tính ven biển miễn Trung gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huổ, Đà Nẵng, Quảng Nam đã góp phin én định đồi sống nhân «dan, phát triển sản xuất - Từ năm 1996 đến 2000 một số tuyển để biển xung yếu thuộc cúc tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình tiếp tục được Chương trinh lương thực thé giới và Nhà nước đầu tư khôi phục, nâng cấp thông qua dự án PAM 5325. Tổng chiều dii 21 tuyển đề đã khôi phục, nâng cấp với chiều dai 308 km dé, 76km kè lát mái, 83 cống dưới dé tại một số tuyển trọng điểm. - Sau cơn bão số 4 năm 2000, một số tuyến đê biển, đê cửa ng thuộc tỉnh Hà Tĩnh bị hư hỏng nặng cũng đã và đang được đầu tư củng có, nâng cấp bằng.
nguồn vẫn ngân sách địa phương, đầu tư của Trung wong và hỗ trợ của Ngân hing phát triển Châu á nhằm khắc phục hậu quả bão lụt - Ngoài 1a, với sự hỗ trợ của các tổ chúc quốc tế thông qua các dự án như CARE, CEC, OXEAM khoảng 200km để biển, để cửa sông thuộc khu vực miễn Trung cũng đã được đầu tư, nâng cấp đảm bảo chống được với mức triều trung bình. có sông ứng với gió cắp T cấp 8 “Các tuyến dé đã được đầu tư khôi phục, nâng cắp thông qua dự án PAM, đến nay nhìn chung ồn định, có thé chồng được với mức triều tan suất p = 5% và gió bão cấp 9, "Để cửa sông la nơi chịu tổ hợp của lũ sông và các yếu tổ biển nên khi tính toán thế ké phải xem xết diy đủ ảnh hưởng của các yếu tổ ảnh hưởng từ cả phía biển và trong sông. Đặc biệt đối với đoạn nằm sâu trong dat liền thì vai trò của lũ sông là rất lớn, nhiều khi ỉ lệ đồng góp của nó là chủ yêu cầu thành nên chiều cao cũng như thông số để tính toán cường độ của đê, “Trong trường hợp dé cửa sông, vấn dé 16 hợp lũ với triều cường cần được. nghiên cứu vi tổ hop này thường gây ra mực nước lớn cho đoạn cửa sông gây nước.
tràn qua mặt đề. Khi tinh toán mực nước th kế cho một khu vực cửa sông cụ thể không chỉ dựa vào liệt tài liệu hiện có mà nên tính toán thuỷ lực có xem xét tới tổ hợp bắt lợi nhất là đình | gặp định tiểu tai mỗi vị trí dọc theo cửa sông để có giải pháp gia tăng chiều cao để cũa sông. Đối với các cửa sông lớn, sóng do gió và sóng tàu thuyền có thé tạo hiệu ứng. đáng kẻ tác động lên thân đê ở những đoạn để chạy sit mép sông và không có bãi.
“rong trường hợp này sóng không chỉ phụ thuộc vio chiều sâu nước trước chân công trình, tốc độ gi thỏi mà còn phụ thuộc vào đà gi thổi và thời gian duy trì hướng gió tạo tốc độ lớn tạo sóng vùng cửa sông. Ngoài việc làm gia tăng mục nước thì lưu tốc đồng chảy tử trong sông ra cũng cần phải quan tâm vì đây cổ thé là nguyền nhân trực tiếp gây xói chân công trình gây trượt mái phía sông dẫn tới đỗ vỡ toàn bộ con đ.2, Thông tin chung v khu vực nghiên cứu Tuyến đê cửa sông Mã đoạn từ cuối dé sông Cùng đến Km65 đê tả sông Ma xã Hoằng Phụ trong địa phân huyện Hoằng Hoá với Lach Trio chảy theo hướng, “Tây Nam - Đông Bắc dé ra biển. Khu vực dự án có vị trí địa lý khu vực công trinh nằm vào khoảng 106'20° đến 10625" kinh độ Đông; 18°00" đến 18°05" vĩ độ Đông. Khu vực nghiên cứu là huyện Hoằng Hoá nằm cách trung tâm hành chính tinh “Thanh Ho khoảng 50km về phía Đông Bắc, Phía Bắc giáp huyện Hậu Lộc; phía Nam giệp huyện Quảng Xương, thành phd Thanh Hoá và một phần huyện Đông Son; phía Tây giáp huyện Thiệu Hoá, Yên Định và Vĩnh Lộc, phía Đông giáp biển Đông.
Đây là khu vực giáp biển chịu tác động của thiên nhiên khắc nghiệt, thiên tai, bão, lụt lớn liên tiếp xây ra và hệ thống để của sông như một công trình ngăn lũ, chống xâm nhập mặn nhằm ôn định đời song cho nhân dân, phát triển sản xuất cho khu vực "Nguồn thu nhập chủ yến của dân cư trong ving dựa trên các sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng, ché biến và đánh bắt thuỷ hải sản. Khu vực này là nơi tập trung các khu đông dân, các công trình hành chính Nhà nước, các cơ sở văn hoá, y , giáo dục, đưỡng liền huyện, lưới tải điện và phần kn điện ích đất nông nghiệp “Hình 1. Ban đồ vị tí khu vực nghiên cứu 1.1, Các đặc trưng khí tượng Khu vue nghiên cấu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đối gió mùa. Các yêu tổ khí tượng bao gém áp suất khi quyển, gió, bo, nhiệt độ không khí, độ âm, lượng mưa là các yếu tổ cơ bản gly ra các quá tỉnh động lực sông biển như sóng, ding chiy, nước dng, Ki ạt ác dung trực tiếp đến quá tình xối lờ bờ sông, biển, Do đồ, để có thể đính giá ding các quả trinh thuỷ thạch động lực cho khu vực nghiên cứu cẩn có được các điều kiện tổng quit của các yêu tổ trên + Khí áp Do ảnh hưởng của trung tim áp cao cực đới ở Xibia vào mùa đồng và vùng 4p thấp lục địa Châu A, nên đặc điểm chung của toàn vùng Việt Nam nói chung và khu vực tinh Thanh Hoá nói riêng có khí áp cao về mùa đông và thấp về.
Khí áp mặt biển có giá tri lớn nhất vào tháng 1, XI và nhỏ nhất vào tháng VII và tháng VIH, Khi áp trung bình/ năm ở ving đồng bằng ven biển dao động trong khoảng 1010mb +101 mb. + Nhiệt độ Nằm ở vĩ độ thấp, trên biển, nhận được nhiều bức xạ mặt trời, chịu tác động. ít của không khí lạnh cực đới biển tính, khu vực nghiên cứu có nền nhiệt độ cao, biến đổi không lớn. Trung bình năm nhiệt độ từ 23 *C¿26°C.
Nhiệt độ cao nhất đã io được tại vùng ven biển à 40 9C, nhiệt độ ngoài khơi 38.6°C, Nhiệt độ thấp nhất đã đo được tại vùng ven bờ là 7.7°C, vùng ngoài khơi là 11. Các thông số này liên quan đến hoạt động của gió mùa Đông Bắc "Băng L1: Nhiệ độ thang bình quân nhiễu năm Trạm |1 |2 3|4 |5 |6|7/8|9 110/11/12 ‘Thanh Hoá | 17.1 + Bắc hơi Khả năng bốc hơi đo bằng Piche trên lưu vực sông Mã biển đổi từ 800 - 1. Vùng đồng bằng cho khả năng bốc hơi lớn hơn từ 900 ~ 1.000mm do bộc hơi tốc độ gió trung bình lớn hon, ốc hơi Piche đạt 821 mm tại Thanh Hoá, 783 mm tại Bái Thượng v.2: Lượng bbc hơi trưng bình thing (mm) Trạm 1 2|3|4| 5 |6 |7 |8|9 10 H1 'ThanhHoá | 54.