Mở đầu Phần 2: Tổng quan tài liệu Phần 3: Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Các giải pháp nâng cao vai trò của rừng đối với phát triển kinh té hộ 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận về vai trò của phát triển kinh tế từ rừng 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Rừng và phát triển kinh tế từ rừng Khái niệm về rừng Có nhiều khái niệm khác nhau về rừng.
Năm 1930, Morozov đƣa ra khái niệm: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý.E Tcachenco đã phát biểu : Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hƣởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài.S Mê lê khôp cho rằng: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu (Bách khoa toàn thƣ- Tiếng Việt,2013). Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trƣờng khác, trong đó cây gỗ ,tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trƣng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng 0,1 trở lên.
Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (Luật Bảo và phát triển rừng Việt Nam, 2004). Từ các khái niệm trên có thể tổng hợp ra một khái niệm là: Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Quần xã sinh vật phải có diện tích lớn,giữa quần xã sinh vật và môi trƣờng, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết với nhau để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác. 6 Về phân loại rừng: có nhiều cách phân loại rừng.
Phân loại theo chức năng sử dụng thì có 3 loại rừng: Rừng đặc dụng: Là loại rừng đƣợc thành lập với mục đích chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi du lịch kết hợp với phòng hộ bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Rừng phòng hộ: là rừng đƣợc sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nƣớc, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trƣờng. Rừng sản xuất: Là rừng đƣợc dùng chủ yếu trong sản xuất kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trƣờng. Phân loại rừng theo trữ lƣợng thì có: Rừng giàu: Trữ lƣợng rừng trên 150m3 /ha Rừng trung bình: Trữ lƣợng rừng nằm trong khoảng (100-150) m3 /ha Rừng nghèo: Trữ lƣợng rừng nằm trong khoảng (80-100) m3 /ha Rừng kiệt: Trữ lƣợng rừng thấp hơn 50 m3 /ha Phân loại rừng dựa vào tác đông của con ngƣời thì có rừng tự nhiên và rừng nhân tạo Phân loại dựa vào nguồn gốc thì có rừng chồi và rừng hạt.
Phân loại rừng theo tuổi: Rừng non, rừng sào (là rừng bất đầu khép tán, xuất hiện quan hệ cạnh tranh gay gắt về ánh sáng và chiều cao giữa các cá thể cây gỗ ), rừng trung niên và rừng già. Phát triển kinh tế rừng tại Việt Nam: Theo số liệu thống kê của Viện điều tra và quy hoạch rừng Việt Nam, trƣớc năm 1945 Việt Nam có 14 triệu ha rừng chiếm hơn 24% diện tích tự nhiên của cả nƣớc, năm 1975 còn 7,8 triệu ha (23,6%), đến năm 1989 chỉ còn 6,5 triệu ha (19,7%). Tính đến ngày 31/12/2011, Việt Nam có tổng diện tích 7 rừng là 13.064 ha, trong đó rừng tự nhiên là 10.383 ha và rừng trồng là 3. Độ che phủ rừng toàn quốc là 39,7% (Theo Quyết định số 2089/QĐ-BNN-TCLN ngày 30 tháng 8 năm 2012).
Rừng Việt Nam là một kho tài nguyên vô cùng quý giá với 12.000 loài thực vật. trong đó có khoảng 10% là loài đặc hữu, 800 loài rêu, 600 loài nấm … Khoảng 2.300 loài cây có mạch đã đƣợc dùng làm lƣơng thực, thực phẩm, làm thức ăn cho gia súc. Chúng ta có 41 loài gỗ quí (nhóm 1) 20 loài gỗ bền chắc (nhóm 2), 24 loài gỗ đồ mộc và xây dựng (nhóm 3) …, loại rừng cho gỗ này chiếm khoảng 6 triệu ha. Đó là chƣa kể các loại rừng tre, trúc chiếm khoảng 1,5 triệu ha gồm khoảng 25 loài đã đƣợc gây trồng có giá trị kinh tế cao.
Hàng nghìn loài dƣợc liệu quý để chữa bệnh và có giá trị cao (http://www.com/13-trieu-ha- rung-bi-pha-huy-moi-nam/141/6220933. Gỗ đƣợc sử dụng rất rộng rãi trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, kiến trúc, xây dựng và khai khoáng. Ngoài ra gỗ còn đƣợc dùng làm văn phòng phẩm nhạc cụ, dụng cụ thể thao, đóng toa tầu,thuyền bè,xe cộ,bàn ghế, đồ dùng sinh hoạt … “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, đƣợc khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng” (FAO,1999). Nhƣ vậy, lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ đƣợc khai thác từ rừng (cả rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con ngƣời.
Bao gồm các loại thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dƣợc liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa dầu,cao su, tannin, màu nhuộm, chất béo, song mây, tre nứa, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi,… 8 2. Sự phụ thuộc sinh kế của con người vào rừng Theo ƣớc tính của Ngân hàng thế giới, 1,6 tỷ ngƣời sống phụ thuộc vào rừng trên toàn cầu, và rừng là nguồn cung cấp nhiều việc làm, góp phần vào sự tăng trƣởng kinh tế của quốc gia va khu vực. Qua thống kê cho thấy, 30% diện tích rừng đƣợc sử dụng để sản xuất gỗ và các sản phẩm phi gỗ, thƣơng mại-lâm sản ƣớc đạt 327 tỷ USD/năm. Còn tại Việt Nam theo thống kê sơ bộ của các nghiên cứu trƣớc đây thì có khoảng 25 triệu ngƣời dân nông thôn ở Việt Nam sống ở các vùng rừng và gần rừng, và đời sống của họ phụ thuộc phần lớn vào rừng (RECOFTC, 2011).
Đa số ngƣời dân sống phụ thuộc vào rừng là thuộc nhóm dân tộc thiểu số sống trong và gần rừng ở các vùng núi cao dân tộc ít ngƣời, có trình độ dân trí thấp, phƣơng thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn khó khăn. Tuy nhiên, các quyền lợi của họ đối với tài nguyên rừng vẫn chƣa đƣợc đảm bảo và tỷ lệ nghèo đói vẫn còn khá cao (UN-REDD 2008). Rừng ngày càng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế bền vững ở mỗi quốc gia. Ngoài ra nó còn có vai trò trong việc đảm bảo môi trƣờng đất, nƣớc, khí hậu đƣợc trong sạch, giữ vững đa dạng dinh học.
Trong vùng có sự quản lý rừng chặt chẽ thì con ngƣời có thể khai thác các tiềm năng của rừng một các bền vững nhƣ các loại gỗ, tre nứa, động vật rừng, các loại cây dƣợc liệu làm thuốc chữa bệnh. Ngày nay con ngƣời còn biết sử dụng rừng làm các khu du lịch sinh thái nhƣ vƣờn quốc gia Ba Bể, vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng, Khu du lịch Cần Giờ, Vƣờn quốc gia U Minh Hạ. Từ các mô hình phát triển rừng hiệu quả đã làm cho đời sống dân cƣ ổn định. Cùng với rừng ngƣời dân đƣợc nhà nƣớc hỗ trợ đất sản xuất rừng, vốn cùng với các biện pháp kỹ thuật, cơ sở hạ tầng để tạo nguồn thu nhập cho ngƣơi dân.
9 Rừng và sản phẩm từ rừng mang lại thu nhập cho ngƣời dân. Cây rừng đƣợc dân khai thác làm nguyên vật liệu. Không chỉ ở trong nƣớc, các sản phẩm còn đƣợc xuất khẩu ra thị trƣờng ngoài làm tăng giá trị sản phẩm. Vì vậy thu nhập của ngƣời dân cũng tăng lên.
Hoạt động du lịch mở rộng là nguồn thu nhập mới cho ngƣời dân. Rừng mang lại thực phẩm, dƣợc liệu tự nhiên có giá trị cho con ngƣời. Vì vậy có thể nói đối với đại bộ phận ngƣời dân Việt Nam còn sinh sống khá phụ thuộc vào rừng, rừng trở thành một yếu tố không thể tách rời với họ. Chính vì thế mà chính phủ hiện nay rất đề cao việc bảo vệ rừng, khai thác rừng theo hƣớng bền vững để cuộc sống ngƣời dân ngày càng ổn định và nâng cao hơn.
Hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý rừng nhất là quản lý quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng rừng, giao đất,giao rừng, kiểm kê, thống kê rừng đã đƣợc nâng cao một bƣớc. Nhà nƣớc đã đẩy mạnh việc giao quyền sử dụng, sử dụng rừng ,khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài đến các chủ rừng qua đó thúc đẩy sự tham gia của các thành phần kinh tế trong quản lý, bảo vệ rừng trong đó có việc phát triển kinh tế hộ gia đình gắn với lợi ích từ rừng. Điều này chứng tỏ ngƣời dân ngày càng nhận thức rõ đƣợc tầm quan trọng của rừng đối với đời sống kinh tế của hộ gia đình, cùng với những chính sách vĩ mô của Nhà nƣớc thì ngƣời dân lại càng có cơ sở và quyền hạn để bảo vệ và khai thác rừng một cách hiệu quả mang lại nguồn lợi kinh tế bền vững. Khái niệm về hộ và kinh tế hộ Khái niệm về hộ: Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển.
Trải qua mỗi thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ đƣợc biểu hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là “Sự hoạt động kinh doanh của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao để tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tăng thêm tích lũy cho gia đình 10 và xã hội”. Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ: - Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “ Hộ là tất cả những ngƣời cùng chung sống trong một mái nhà. Nhóm ngƣời đó bao gồm những ngƣời cùng chung huyết tộc và những ngƣời làm công”. - Theo Liên hợp quốc “ Hộ là những ngƣời cùng chung sống chung dƣới một mái nhà, cùng làm ăn và có chung một ngân quỹ”.