CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNHĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG VÀ TÍNH MINH BẠCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Tổng quan về BCTC công 1. Khái niệm về BCTC công Theo International Public Sector Accounting Standards Board (2013), BCTC của khu vực công là một trình bày có cấu trúc về tình hình tài chính và hoạt động của một đơn vị. Mục tiêu của BCTC dành cho khu vực công là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hoạt động tài chính, lưu chuyển tiền của một tổ chứccho một loạt người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định và đánh giá phân bổ nguồn lực.
Mục đích của BCTC của khu vực công TheoIPSASB (2006, p.15- 16), mục tiêu của BCTC trong khu vực công là “cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định và để chứng minh trách nhiệm của đơn vị cho các nguồn lực được giao phó, bằng cách: - Cung cấp thông tin về các nguồn, phân bổ, và việc sử dụng nguồn lực tài chính (International Public Sector Accounting Standards Board, 2006). - Cung cấp thông tin về cách thức tổ chức tài trợ các hoạt động của mình và đáp ứng yêu cầu tiền mặt - Cung cấp thông tin hữu ích trong việc đánh giá khả năng tài chính hoạt động của mình để đáp ứng nợ và cam kết - Cung cấp thông tin về tình trạng tài chính của đơn vị và những thay đổi - Cung cấp thông tin tổng hợp hữu ích trong việc đánh giá hiệu suất của đơn vị về chi phí dịch vụ, hiệu quả, và thành tựu - BCTC cũng có thể giữ vai trò dự báo, cung cấp thông tin hữu ích trong việc dự đoán nguồn lực cần thiết để tiếp tục hoạt động và những rủi ro, sự không chắc chắn có liên quan. BCTC có thể cung cấp cho người sử dụng các thông tin: 2 + Cho biết thu và sử dụng nguồn lực có phù hợp với quy định ngân sách ? + Cho biết liệu các nguồn thu có được sử dụng phù hợp với các yêu cầu pháp lý và hợp đồng bao gồm giới hạn tài chính được thiết lập bởi các cơ quan luật pháp? + Để đạt được những mục tiêu trên, BCTC phải cung cấp thông tin về Tài sản, Nợ phải trả, Tài sản thuần, Thu nhập, Chi phí, Thay đổi trong tài sản thuần, vốn chủ sở hữu và Lưu chuyển tiền tệ”. Chuẩn mực kế toán về BCTC công 1.
Chuẩn mực kế toán công quốc tế 1.Tổ chức ban hành Chuẩn mực kế toán công quốc tế do Ban Chuẩn mực kế toán công quốc tế ban hành. Ban Chuẩn mực kế toán công quốc tế là một trong bốn hội đồng thiết lập chuẩn mực độc lập được hỗ trợ bởi Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC). Tiền thân của tổ chức này đó là Ủy ban khu vực công (Public Sector Committee) trực thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế. Ban Chuẩn mực kế toán công quốc tế là một hội đồng thiết lập chuẩn mực độc lập, phát triển những CMKT công chất lượng cao, hướng dẫn, và các nguồn lực cho các tổ chức công trên toàn thế giới về BCTC.
IPSASB gồm 18 thành viên, trong đó 15 thành viên tự nguyện đến từ các cơ quan thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) và 3 thành viên tổ chức công. Các thành viên bao gồm đại diện các Bộ tài chính, các tổ chức Kiểm toán của chính phủ, các tổ chức nghề nghiệp và tổ chức học thuật. Theo Mai Thị Hoàng Minh và Phạm Quang Huy (2013), mục tiêu của IPSASB là nâng cao chất lượng và tính minh bạch của BCTC khu vực công bằng cách : - Xây dựng hệ thống CMKT chất lượng cao cho các tổ chức công - Thúc đẩy việc áp dụng và hội tụ kế toán quốc tế: cung cấp thông tin toàn diện cho quản lý tài chính và ra quyết định khu vực công, cung cấp những hướng dẫn và kinh nghiệm trong BCTC khu vực công. Tầm quan trọng và mục tiêu của Chuẩn mực kế toán công quốc tế a.
Tầm quan trọng của Chuẩn mực kế toán công quốc tế Chuẩn mực kế toán công đóng một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kiểm toán nhà nước. Thứ nhất, CMKT công là một cơ sở quan trọng trong khâu tổ chức thực hiện các giai đoạn của quá trình kiểm toán, sẽ là một cơ sở để xác định các mục tiêu cụ thể trong kế hoạch chi tiết trong các cuộc kiểm toán và là cơ sở để kiểm toán viên đưa ra những kiến nghị đối với đơn vị đồng thời cũng chính là cơ sở để đánh giá những kiến nghị, kết luận của kiểm toán viên. Từ đó, CMKT công sẽ góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm toán Nhà nước. Thứ hai, CMKT công là một cơ sở cho kiểm toán viên định hướng các cơ sở dẫn liệu cần kiểm toán, các phương pháp kỹ thuật và nghiệp vụ.
Thứ ba, CMKTcông sẽ đem lại một sự thống nhất trong hoạt động kiểm toán nhà nước. Thứ tư, CMKT sẽ hỗ trợcho kiểm toán nhà nước có được những thông tin trung thực, khách quan về các tổ chức. Thứ năm, CMKT công sẽ là một cơ sở để kiểm toán nhà nước xây dựng các phương thức công khai kết quả kiểm toán. Như vậy, với những vai trò tích cực của CMKT công, rất cần thiết phải có một bộ CMKT công để áp dụng một cách thống nhất, rộng rãi(Mai Thị Hoàng Minh, 2009).
Chuẩn mực kế toán công quốc tế là một bộ chuẩn mực cung cấp quá trình ứng dụng các nguyên tắc kế toán một cách thống nhất trong hệ thống của đơn vị công của một quốc gia bởi vì các quốc gia nếu tự mình thiết lập thì sẽ không theo kịp sự phát triển cũng như phương pháp luận trong các chính sách kế toán toàn cầu. Bên cạnh đó, CMKT công quốc tế cải thiện tính trách nhiệm và tính minh bạch thông qua BCTC tuân thủ quy định của IPSASB, cải thiện mức độ mà chính sách tài chính, quy định, quy tắc các thủ tục và thông lệ kinh doanh, đáp ứng yêu cầu của tổ chức (Phạm Quang Huy, 2013b). Mục tiêu của Chuẩn mực kế toán công quốc tế Bộ CMKT công quốc tế có nhiệm vụ là nền tảng cho chính phủ các quốc gia. Các tổ chức trong khu vực công vận dụng chuẩn mực này tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội để mang lại sự minh bạch trong số liệu tài chính, kế toán từ đó gia tăng chất lượng thông tin mà BCTC mang lại.
IPSASs được ban hành nhằm mang đến 5 mục 4 tiêu cụ thể: chất lượng và nội dung cụ thể, tính minh bạch, tính thống nhất, trách nhiệm giải trình, tính quản trị (Phạm Quang Huy, 2013b) 1. Nội dung chính của Chuẩn mực kế toán công quốc tế IPSASs được phát triển bởi khu vực công và dành riêng cho chính các đơn vị thuộc khu vực công. Nội dung của IPSASs được IPSASB soạn thảo dựa trên cơ sở nội dung của CMKT quốc tế (IAS) và chuẩn mực về lập BCTC quốc tế (IFRS) nhưng đã được điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm của khu vực công. Chuẩn mực kế toán công quốc tế hiện nay đã ban hành bao gồm 32 chuẩn mực trên cơ sở dồn tích và 01 chuẩn mực trên cơ sở tiền a.
Đối với chuẩn mực dựa trên cơ sở tiền Chuẩn mực trên cơ sở tiền có ưu điểm là bao quát toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh bằng tiền, các tính hợp nhất cao và dễ dàng, khả năng cung cấp thông tin kịp thời cho quản lý và điều hành NSNN. Quản lý điều hành NSNN theo kiểu truyền thống tức là điều hành ngân sách theo đầu vào. Nhưng khi quản lý ngân sách theo hiện đại tức là quản lý ngân sách theo kết quả thì các hoạt động thông tin của chính phủ không chỉ gói gọn trong hoạt động thu chi ngân sách mà còn cần cả thông tin về tài sản của Nhà nước thì chuẩn mực trên cơ sở tiền mặt không đáp ứng được, vì vậy mà CMKT trên cơ sở dồn tích được bổ sung để khắc phục những hạn chế mà cơ sở tiền mặt đem lại(Đào Xuân Tiên, 2009). Đối với chuẩn mực dựa trên cơ sở dồn tích Chuẩn mực dựa trên cơ sở dồn tích phản ánh được tình hình kinh tế của đơn vị và dòng tiền, phân bổ nguồn lực trong quá trình hoạt động, có thể hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện nhưng khó áp dụng cho một số quốc gia, mang tính phức tạp hơn so với CMKT trên cơ sở tiền.
Nhìn chung, các chuẩn mực trên cơ sở dồn tích được xây dựng trên cơ sở CMKT áp dụng cho doanh nghiệp, tuy nhiên có những sửa đổi nhất định để phù hợp với khu vực công (Đào Xuân Tiên, 2009). Các quy định tại Việt Nam về BCTC khu vực công 5 Hiện nay, Việt Nam chưa có CMKT công. Vì vậy các đơn vị đặc thù trong khu vực công hạch toán và lập BCTC theo quy định của Bộ tài chính trên cơ sở những Quyết định và Thông tư hướng dẫn. Trong đó: Các đơn vị HCSN thực hiện hạch toán kế toán, sổ sách chứng từ và BCTC theo quyết định 19/2006/QĐ-BTC, hướng dẫn thực hiện bởi Thông tư 185/2010/TT- BTC.
Báo cáo tài chính áp dụng cho các đơn vị HCSN theo quyết định19 bao gồm 10 biểu mẫu đối với các đơn vị kế toán cấp cơ sở, 3 biểu mẫu đối với các đơn vị kế toán cấp 1 và cấp 2 Hoạt động của NSNN và hoạt động nghiệp vụ kho bạc được quy định tạiQĐ 120/2008/QĐ – BTC ban hành ngày 22 tháng 12 năm 2008 được hướng dẫn thực hiện bởi thông tư 130/2009/TT– BTC, thay thế bởi thông tư 08/2013/TT–BTC ban hành ngày 10/01/2013, trong đó bao gồm 29BCTC chia thành 8 nhóm chính: báo cáo tổng hợp dự toán, báo cáo tổng hợp thu và vay NSNN, báo cáo tổng hợp chi ngân sách, báo cáo tổng hợp chi chương trình mục tiêu quốc gia, báo cáo sử dụng kinh phí, báo cáo vay, trả nợ, báo cáo ghi thu, ghi chi vốn ngoài nước, báo cáo nhanh và báo cáo cân đối thu chi NSNN. Đối với ngân sách và tài chính xã, công tác kế toán được thực hiện theo quy định tại QĐ 94/2005/ QĐ – BTC ban hành ngày 12 tháng 12 năm 2005, sửa đổi bổ sung bằng thông tư 146/2011/TT– BTC. Trong quy định này, các đơn vị phải lập 12 báo cáo trong đó có 3 biểu mẫu được lập theo tháng và 9 biểu mẫu được lập theo năm. Riêng đối với các cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện công tác kế toán theo thông tư 178/2012/TT- BTC ban hành ngày 23 tháng 10 năm 2007.
Theo đó, BCTC bao gồm 24 biểu mẫu áp dụng cho các đơn vị kế toán cấp 1 và cấp 2, 13 biểu mẫu áp dụng cho đơn vị kế toán cấp 3.