CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THẺ TẠI NHTM 1. Khái niệm về thẻ ngân hàng Thẻ là một công cụ thanh toán do ngân h àng phát hành cho khách hàng s ử dụng để trả tiền hàng hóa, dịch vụ, các khoản thanh toán khác tại các cơ sở chấp nhận thẻ và rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc tại quầy ngân h àng. Tại Việt Nam thẻ ngân hàng được định nghĩa là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ cấp cho khách hàng để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản đã được các bên thỏa thuận (quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc ngân hàng Nhà Nước về ban hành quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân h àng). Thẻ ngân hàng luôn được làm bằng Plastic theo kích cỡ ti êu chuẩn quốc tế và bao gồm các yếu tố: nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của nhà phát hành thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực và tên của chủ thẻ.
Ngoài ra trên thẻ còn có thể có tên công ty phát hành thẻ hoặc thêm một số yếu tố khác theo ti êu chuẩn của Tổ chức hoặc tập đoàn thẻ quốc tế. Có rất nhiều tiêu thức để phân loại thẻ nhưng chủ yếu người ta sử dụng theo 2 phương thức chính: Phân loại theo công nghệ sản xuất v à phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ. Phân loại thẻ ngân hàng theo công nghệ sản xuất: Thẻ in nổi: Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Ngày nay loại thẻ này ít được sử dụng vì công nghệ in quá thô sơ, dễ bị làm giả mà kết hợp với các công nghệ mới nh ư thẻ từ, thẻ thông minh.
Thẻ từ: Là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa được dập nổi ở mặt trước của thẻ vừa được mã hoá trong băng từ ở mặt sau của thẻ. Các t hông tin này phải đảm bảo chính xác và khớp với nhau. Thẻ từ hiện nay đang chiếm phần lớn trong tổng số lượng thẻ đang sử dụng trên thị trường. Thẻ thông minh: Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc tính bảo mật v à an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu 123doc 5 tạo như một máy tính hoàn hảo.
Thông thường một tấm thẻ thông minh đ ược gắn chip điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ. Cũng có tr ường hợp thẻ thông minh có cả Chip điện tử và băng từ. Phân loại thẻ ngân hàng theo tính chất thanh toán: Thẻ tín dụng: Là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cung cấp cho nguời sử dụng khả năng chi ti êu trước trả tiền sau. Tại thời điểm khách h àng thanh toán hàng hóa dịch vụ ngân hàng sẽ đứng ra tạm ứng thanh toán c ho đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ và sau đó sẽ tiến hành thu hồi khoản tiền này từ khách hàng sau một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận giữa ngân h àng và chủ thẻ.
Thẻ ghi nợ: Giống như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ cũng l à một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Nó cho phép khách h àng tiếp cận với số dư tài khoản của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán h àng hoá dịch vụ tại các ĐVCNT hoặc thực hiện các giao dịch li ên quan tới tài khoản tại các máy ATM. Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số dư trong tài khoản. Ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ cho chủ thẻ và thu phí dịch vụ.
Đối với thẻ ghi nợ, giữa ngân hàng và khách hàng không di ễn ra quá trình cho vay tín dụng, không có việc phân loại khách hàng nên mọi khách hàng chỉ cần có tài khoản tại ngân hàng đều có thể tiếp cận với sản phẩm thẻ ghi nợ của ngân h àng 1. Khái niệm về chất lượng dịch vụ Tùy theo đối tượng sử dụng, từ “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau. Ng ười sản xuất coi chất lượng là mục tiêu họ phải hướng đến để đáp ứng các quy định v à yêu cầu mà khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận. Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa như sau: “Chất lượng là khả năng của một tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá tr ình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”.
Dịch vụ là khái niệm phổ biến trong kinh doanh và marketing. Có nhi ều cách định nghĩa về dịch vụ nhưng theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner th ì dịch vụ là 123doc 6 những hành vi, quá trình và cách th ức thực hiện một công việc n ào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Philip Kolter: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.
Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học đ ược hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất. Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ l à sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu nh ư: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ, tài chính, ngân hàng, …và mang lại lợi nhuận. Chất lượng hàng hóa là hữu hình và có thể đo lường được bởi các tiêu chí như: tính năng, đặc tính và độ bền. Tuy nhiên dịch vụ là vô hình, vì vậy chất lượng dịch vụ được khách hàng đánh giá thông qua hoạt động giao tiếp, nhận thông tin và cảm nhận.
Khách hàng chỉ có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và sử dụng dịch vụ đó. Theo Parasuraman Et A l: chất lượng dịch vụ là sự đánh giá, cảm nhận của khách hàng về dịch vụ mình sử dụng. Đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thì chất lượng dịch vụ là khả năng doanh nghiệp đáp ứng đ ược mong đợi của khách hàng. Có sự khác nhau giữa mong đợi của khách h àng về dịch vụ và cảm nhận về dịch vụ thực tế đã nhận được.
Năm 1985, Parasuraman Et A l đã đưa ra mô hình chất lượng dịch vụ 5 khoảng cách. Mô hình này cung cấp cho các nhà nghiên cứu công cụ để đo lường khoảng cách giữa sự thực thi dịch vụ và sự mong đợi của khách hàng (khoảng cách 5). Như vậy, khái niệm chất lượng dịch vụ trong lý thuyết dịc h vụ là sự cảm nhận của khách hàng đối với dịch vụ.1: Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman (1985) Thông tin từ các Nhu cầu cá nhân Kinh nghiệm trong nguồn khác nhau quá khứ Sự kỳ vọng dịch vụ Khoảng cách 5 Sự cảm nhận dịch vụ KHÁCH HÀNG NHÀ CUNG CẤP Khoảng cách 4 Chuyển giao dịch vụ Thông tin đến khách hàng Khoảng cách 3 Khoảng cách 1 Chuyển đổi cảm nhận của doanh nghiệp thành tiêu chí chất lượng dịch vụ Khoảng cách 2 Nhận thức của doanh nghiệp về sự kỳ vọng của khách hàng (nguồn Parasuraman, 1985) 123doc 8 Sự kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ có sự khác biệt một khoảng cách so với sự cảm nhận của họ về chất l ượng dịch vụ đó. Các khoảng cách trong mô hình bao gồm: Khoảng cách 1: Xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách h àng về chất lượng dịch vụ và nhà quản trị dịch vụ cảm nhận về kỳ vọng n ày của khách hàng.
Điểm cơ bản của sự khác biệt này là do công ty dịch vụ không hiểu biết được những đặc điểm nào tạo nên chất lượng dịch vụ của mình cũng như cách thức chuyển giao chúng cho khách h àng để thỏa mãn nhu cầu của họ. Khoảng cách 2: Xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính chất lượng dịch vụ. Nguyên nhân chính của vấn đề này là khả năng chuyên môn của đội ngũ nhân viên dịch vụ cũng như dao động quá nhiều của cầu về dịch vụ đó, khi cầu dịch vụ quá cao l àm cho doanh nghiệp không thể đáp ứng kịp. Khoảng cách 3: Xuất hiện khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo nh ững tiêu chí đã được xác định.
Khoảng cách 4: Xuất hiện khi phương tiện quảng cáo và thông tin về dịch vụ tác động vào kỳ vọng của khách hàng. Khoảng cách 5: Xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng bởi khách hàng và chất lượng họ cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ 5 này, một khi khách hàng nhận thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ thì chất lượng dịch vụ cả dịch vụ đó đ ược coi là hoàn hảo. Parasuraman (1985) cho r ằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ 5.
Khoảng cách thứ 5 n ày phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó, là các khoảng cách 1, 2, 3, 4. V ì thế để rút ngắn khoảng cách thứ 5 này, hay làm chất lượng dịch vụ này trở nên hoàn hảo, nhà quản trị dịch vụ phải nỗ lực rút ngắn các khoảng cách này. Mô hình chất lượng dịch vụ, theo các nh à nghiên cứu này có thể 123doc 9 được biểu diễn là: CLDV= F( KC_5= f(KC1, KC2, KC3, KC4) ). Ngoài ra, sự kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ còn có ba yếu tố tác động ngoại sinh, đó là sự tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn nh ư truyền miệng và chữ viết, nhu cầu cá nhân v à các trải nghiệm trong quá khứ của khách h àng đó.
Mô hình năm khoảng cách là mô hình tổng quát, mang tính chất lý thuyết, khái niệm về chất lượng dịch vụ. Để có thể thực hành, nghiên cứu kiểm định được, Parasuraman và các cộng sự đã cố gắng xây dựng thang đo d ùng để đo lường và đánh giá chất lượng trong lĩnh vực dịch vụ, theo đó bất kỳ dịch vụ nào chất lượng cũng được khách hàng cảm nhận dựa trên 10 thành phần quyết định chất lượng dịch vụ được liệt kê dưới đây: 1.