CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện 1. Khái niệm về Cán bộ công chức * Khái niệm cán bộ: Cán bộ là khái niệm cơ bản về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đã được bổ sung tại Luật Cán bộ và Công chức của Việt Nam. Trong Từ điển tiếng Việt tái bản năm 1993 từ cán bộ có hai nghĩa: "1.
Người làm công tác có trình độ cao trong cơ quan nhà nước "; "2. Người làm công tác có chức vụ tại một cơ quan hay một tổ chức, phân biệt với người bình thường và không có chức vụ ".Với nghĩa thứ nhất thì cán bộ không chỉ gồm những người làm công tác có trình độ không chỉ tại cơ quan nhà nước mà trong toàn nền chính trị và cũng chỉ bao gồm những người có chuyên môn được đào tạo. Số không có chuyên môn được đào tạo là công chức. Với nghĩa thứ hai là người làm công tác có chức vụ tại một cơ quan hoặc một tổ chức thuộc hệ thống chính trị là cán bộ.
[26] Khái niệm cán bộ cộng với khái niệm công chức được định nghĩa rõ ràng và phân biệt, định nghĩa rõ trong Luật Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2008 có hiệu lực ngày 01/01/2010. Theo Luật thì cán bộ được hiểu là công dân Việt Nam đã được bầu, phê chuẩn hoặc giữ các chức vụ và chức danh theo nhiệm kỳ tại cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành ủy thuộc trung ương và các huyện, quận, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh (dưới đây gọi tắt là cấp huyện), thuộc biên chế và hưởng tiền lương từ ngân sách Nhà nước. Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP thì có thể kể ra những người là cán bộ sau: 9 Ở Trung ương: Tổng Bí thư, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chánh Văn phòng Trung ương hoặc Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chủ nhiệm các Ban Đảng Trung ương, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch các Tổ chức Chính trị - xã hội, Bộ trưởng và tương đương, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Cấp tỉnh: Bí thư hoặc Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch HĐND tỉnh, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch các tổ chức Chính trị - xã hội.
Cấp huyện: Bí thư hoặc Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch HĐND huyện, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND huyện. Như vậy, dù khái niệm cán bộ và khái niệm công chức đã được phân biệt rõ ràng nhưng việc phân biệt này cũng không thực sự rạch ròi và rành mạch. Thực tế muốn thành người cán bộ (khi được bầu, phê chuẩn hoặc bổ nhiệm) thì đa số người ta đã phải từng trải qua quá trình làm công chức hay nói chính xác hơn nữa là theo khái niệm cán bộ của Luật Cán bộ, công chức thì phần lớn cán bộ được hình thành từ lực lượng công chức. [26] * Khái niệm công chức: Khái niệm công chức là được sử dụng rộng rãi tại mọi quốc gia trên toàn cầu tuy nhiên được định nghĩa không giống nhau và do đó trong phạm vi một quốc gia khái niệm về công chức ở mỗi quốc gia cũng này khác nhau.
Ở các quốc gia đã áp dụng chế độ công chức thì công chức được định nghĩa là các cá nhân được tuyển chọn và bổ nhiệm giữ một chức vụ nhất định tại một cơ quan của Nhà nước tại Trung ương hay địa phương bất kể là trong nước hay ngoài nước và được phân vào một ngạch công chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Qua nhiều lần sửa đổi và ban hành đến ngày 09/12/2008 Quốc hội thông qua Luật Cán bộ, công chức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 quy định rõ về khái niệm công chức để phân biệt và hiểu rõ ràng cán bộ và công chức. 10 Như vậy, các quy định trước Luật Cán bộ, công chức năm 2008 không mô tả công chức thông qua sự nói rõ các đặc trưng miêu tả như thế nào là công chức. Để xác định ai là công chức cần dựa trên việc mô tả từng loại công chức.
Luật Cán bộ, công chức đã nêu rõ thuật ngữ miêu tả nhằm xác định rõ ai là công chức. Để triển khai thực hiện Luật Cán bộ, công chức, ngày 25/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP quy định về người là công chức. Theo Quy định trên, cơ sở để xác định công chức gồm: là công dân Việt Nam, được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm giữ ngạch, chức vụ hoặc chức danh nghề nghiệp thuộc lực lượng vũ trang, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công theo quy định của luật, làm việc tại các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam và của tổ chức Chính trị - Xã hội, trừ Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, tại các Cơ quan Bộ và các tổ chức khác được Chính Phủ, Thủ tướng Chính Phủ quy định, tại cơ quan hành chính cấp tỉnh và cấp huyện, thuộc hệ thống Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, trừ cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, trong cơ quan lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập. Công chức được phân loại theo ngạch được bổ nhiệm và theo vị trí công tác gồm các ngạch công chức sau: + Công chức loại A gồm mọi người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương.
+ Công chức loại B gồm mọi người được bổ nhiệm và ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương. + Công chức loại C gồm mọi người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương. + Công chức loại D gồm có người được bổ nhiệm giữ ngạch chuyên viên hoặc tương đương và ngạch chuyên viên. 11 Theo chức vụ quản lý gồm có: Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (chỉ huy, lãnh đạo) và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (trực tiếp thi hành nhiệm vụ).
Theo cấp hành chính có công chức cơ quan Trung ương, công chức cấp sở và công chức cấp huyện. Đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện gồm những cán bộ công chức làm việc tại những cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ quan Nhà nước và tổ chức quần chúng cấp huyện và cán bộ công chức làm việc ở cấp xã. Cán bộ công chức cấp huyện có các đặc trưng như: - Họ là đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện thuộc những cơ quan Đảng, quản lý Nhà nước, đoàn thể đóng trên địa huyện. - Đối với đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện chủ yếu là cán bộ công chức làm việc ở cấp xã và chủ yếu là người của những xã đó.
Những cán bộ công chức này tuy có am hiểu sâu tình hình lịch sử, văn hóa và xã hội của địa bàn quản lý; tuy nhiên về khả năng, kinh nghiệm quản lý và trình độ chuyên môn rất hạn chế. Trong thời gian công tác đối với đội ngũ cán bộ công chức làm việc ở cấp xã hoặc được điều chuyển từ xã lên huyện dễ bị ảnh hưởng từ những mối quan hệ dòng họ, làng xóm và vì thế có thể phát sinh tính chất bè phái, [26] 1. Khái niệm về quản lý cán bộ công chức cấp huyện Quản lý cán bộ, công chức cấp huyện bản chất là quản lý đội ngũ nhân lực và CBCC thuộc tổ chức nhà nước trên địa bàn cấp huyện và có nhiệm vụ đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng và nhận xét, phân loại CBCC phải đảm bảo đúng với luật CBCC, luật viên chức, luật việc làm cùng những luật khác có liên quan. Quản lý cán bộ, công chức là một bộ phận của công tác nhân lực thuộc bộ máy chính trị nhà nước Việt Nam và là chức năng quản lý của những người có trách nhiệm về tổ chức và quản lý thuộc bộ máy chính trị với sự trợ giúp của những tổ chức chuyên trách làm công tác nhân lực thuộc các cấp và 12 những ban ngành từ Trung ương xuống địa phương.
Việc quản lý cán bộ, công chức phải tuân theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chính phủ và những quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Điều lệ của những tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội. Quản lý đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện có những đặc trưng như sau - Đối tượng quản lý chủ yếu là cán bộ của các xã thuộc huyện nên đội ngũ công chức còn có tâm lý, năng lực và kiến thức chuyên môn nghiệm vụ của CBCC vẫn còn hạn chế. - Quản lý đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện còn nhiều hạn chế về công tác bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý và trình độ chuyên môn đối với đội ngũ cán bộ công chức do nguồn ngân sách thực hiện công tác quản lý còn hạn chế hơn so với cấp tỉnh. - Cán bộ công chức cấp huyện phải hoạt động trong điều kiện cơ sở hạ tầng kinh tế kĩ thuật và con người phức tạp hơn cấp tỉnh.
Đây là trở ngại chính đối với công tác quản lý đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện. Đặc điểm quản lý đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện Tính chất công việc của công chức Công chức là người hoạt động chuyên trách tại các cơ quan hành chính nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp công lập và có trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định. Con đường hình thành công chức Có hai con đường không hình thành công chức là qua tuyển dụng và bổ nhiệm. Việc tuyển dụng công chức được cơ quan hành chính hoặc tổ chức có thẩm quyền thực hiện nghiên cứu theo chức năng nhiệm vụ, tính chất công việc và số lượng biên chế được giao.
- Về chỗ làm việc: Địa điểm làm việc của công chức khá phong phú. 13 - Về thời gian công tác: Công chức đảm nhận công tác từ lúc được bổ nhiệm, tuyển dụng hoặc tới lúc nghỉ việc công tác theo quy định của Luật Viên chức mà không làm việc theo thời gian như cán bộ.