Luận văn thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con dưới 24 tháng tuổi tại huyện thạch hà tỉnh hà tĩnh năm 2017 sau giáo dục dinh dưỡng

Nghiên cứu về sự thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho trẻ dưới 24 tháng tuổi tại Thạch Hà, Hà Tĩnh năm 2017 sau giáo dục dinh dưỡng.

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2017

119
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

TÓM TẮT

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Chế độ ăn cho trẻ trong 24 tháng tuổi

1.2. Một số nghiên cứu thực trạng và hiệu quả của giáo dục về chế độ ăn cho bà mẹ có con nhỏ

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.5. Phương pháp chọn mẫu. Bộ công cụ và phương pháp thu thập số liệu. Các biến số nghiên cứu

2.6. Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn và tiêu chí đánh

2.7. Phương pháp phân tích số liệu

2.8. Đạo đức trong nghiên cứu. Sai số và biện pháp khắc phục sai số

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm của bà mẹ tham gia nghiên cứu

3.2. Thực trạng nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con

3.3. Sự thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con sau giáo dục dinh dưỡng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

Phụ lục 1: Thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu

Phụ lục 2: Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức về chế độ ăn cho con dưới 24 tháng tuổi

Phụ lục 3: Thang điểm đánh giá kiến thức

Phụ lục 4: Bộ công cụ can thiệp về chế độ ăn cho trẻ dưới 24 tháng tuổi

Phụ lục 5: Danh sách đối tượng tham gia nghiên cứu

Biên bản bảo vệ luận văn thạc sĩ

Biên bản nhận xét luận văn của phản biện 1

Biên bản nhận xét luận văn của phản biện 2

Biên bản chỉnh sửa luận văn sau bảo vệ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Dinh Dưỡng Cho Trẻ Dưới 24 Tháng Tuổi

Dinh dưỡng trong giai đoạn 6-24 tháng tuổi đóng vai trò then chốt cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Đây là giai đoạn trẻ dễ bị suy dinh dưỡng nhất nếu chế độ ăn không hợp lý. Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu giúp trẻ phát triển tối đa tiềm năng về thể chất và trí tuệ. Theo nghiên cứu, hai năm đầu đời là giai đoạn quan trọng để phòng ngừa chậm tăng trưởng và thiếu vi chất dinh dưỡng. Tăng cường vi chất dinh dưỡng từ thực phẩm là biện pháp hiệu quả để giảm thiểu tình trạng thiếu hụt này. Chế độ ăn hàng ngày, bao gồm sữa mẹăn bổ sung, cần được đặc biệt quan tâm. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và bắt đầu ăn bổ sung từ sau 6 tháng.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Sữa Mẹ Trong 6 Tháng Đầu Đời

Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo, dễ tiêu hóa và hấp thu cho trẻ sơ sinh. Sữa mẹ chứa protein, lipid, carbohydrate, vitamin và khoáng chất với tỷ lệ cân đối, phù hợp với nhu cầu của trẻ. Đặc biệt, sữa non chứa nhiều kháng thể giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn. Sữa mẹ còn giúp cải thiện tâm lý cho cả mẹ và bé, tăng cường sự gắn kết tình cảm. Theo khuyến cáo của WHO, trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu để đảm bảo sự phát triển tốt nhất.

1.2. Vai Trò Của Ăn Bổ Sung Sau 6 Tháng Tuổi

Từ 6 tháng tuổi, sữa mẹ không còn đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng ngày càng tăng của trẻ. Do đó, cần bổ sung các thức ăn khác, gọi là ăn bổ sung hay ăn dặm. Thức ăn bổ sung cần giàu năng lượng, chất dinh dưỡng và đa dạng để hỗ trợ sự phát triển của trẻ. Thời điểm bắt đầu ăn bổ sung hợp lý nhất là khi trẻ tròn 6 tháng tuổi (180 ngày). Cần lưu ý rằng thức ăn bổ sung không thay thế hoàn toàn sữa mẹ mà chỉ là bổ sung thêm các chất dinh dưỡng cần thiết.

II. Thực Trạng Nhận Thức Về Dinh Dưỡng Cho Trẻ Hiện Nay

Mặc dù tầm quan trọng của dinh dưỡng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi đã được công nhận rộng rãi, nhưng thực tế cho thấy nhận thức của các bà mẹ về vấn đề này vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều bà mẹ chưa có đủ kiến thức về thời điểm bắt đầu ăn bổ sung, lựa chọn thực phẩm phù hợp và cách chế biến đảm bảo dinh dưỡng. Điều này dẫn đến tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng, thiếu vi chất dinh dưỡng và chậm phát triển. Nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng – Unicef năm 2010 cho thấy chỉ có 51,7% trẻ em được ăn bổ sung đúng và đủ. Tình trạng này đòi hỏi cần có những can thiệp giáo dục dinh dưỡng hiệu quả để nâng cao nhận thức cho các bà mẹ.

2.1. Những Sai Lầm Thường Gặp Trong Chế Độ Ăn Của Trẻ

Một số sai lầm thường gặp trong chế độ ăn của trẻ dưới 24 tháng tuổi bao gồm: cho trẻ ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn, lựa chọn thực phẩm không phù hợp với lứa tuổi, chế biến thức ăn không đúng cách làm mất chất dinh dưỡng, cho trẻ ăn quá nhiều hoặc quá ít, và không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Những sai lầm này có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho trẻ, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và trí tuệ.

2.2. Ảnh Hưởng Của Nhận Thức Đến Tình Trạng Dinh Dưỡng Của Trẻ

Nhận thức của bà mẹ về dinh dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Những bà mẹ có kiến thức đúng về dinh dưỡng sẽ có xu hướng cho con ăn uống hợp lý hơn, đảm bảo cung cấp đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Ngược lại, những bà mẹ thiếu kiến thức về dinh dưỡng có thể mắc phải những sai lầm trong chế độ ăn của con, dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng và các vấn đề sức khỏe khác. Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Năng cho thấy mối liên quan giữa kiến thức, thái độ của bà mẹ với tình trạng SDD của con.

III. Cách Nâng Cao Nhận Thức Về Dinh Dưỡng Qua Giáo Dục

Giáo dục dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của các bà mẹ về chế độ ăn cho trẻ dưới 24 tháng tuổi. Các chương trình giáo dục cần cung cấp thông tin chính xác, dễ hiểu và phù hợp với trình độ của người học. Nội dung giáo dục nên tập trung vào các vấn đề như: tầm quan trọng của sữa mẹ, thời điểm bắt đầu ăn bổ sung, lựa chọn thực phẩm phù hợp, cách chế biến thức ăn đảm bảo dinh dưỡng, và vệ sinh an toàn thực phẩm. Các phương pháp giáo dục cần đa dạng và linh hoạt, bao gồm: tư vấn trực tiếp, tổ chức các buổi nói chuyện, phát tờ rơi, sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng.

3.1. Xây Dựng Chương Trình Giáo Dục Dinh Dưỡng Hiệu Quả

Để xây dựng một chương trình giáo dục dinh dưỡng hiệu quả, cần xác định rõ mục tiêu, đối tượng và nội dung giáo dục. Chương trình cần được thiết kế dựa trên nhu cầu thực tế của cộng đồng và phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa của địa phương. Cần có sự tham gia của các chuyên gia dinh dưỡng, cán bộ y tế và các tổ chức xã hội để đảm bảo tính khoa học và thực tiễn của chương trình.

3.2. Sử Dụng Các Phương Pháp Truyền Thông Đa Dạng

Để tiếp cận được nhiều đối tượng, cần sử dụng các phương pháp truyền thông đa dạng như: tư vấn trực tiếp tại các cơ sở y tế, tổ chức các buổi nói chuyện tại cộng đồng, phát tờ rơi, áp phích, sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như: truyền hình, radio, báo chí, internet. Cần chú trọng đến việc sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, hình ảnh minh họa sinh động và các thông điệp truyền thông hấp dẫn để thu hút sự chú ý của người học.

3.3. Đánh Giá Hiệu Quả Của Chương Trình Giáo Dục

Sau khi triển khai chương trình giáo dục, cần đánh giá hiệu quả để có những điều chỉnh phù hợp. Việc đánh giá có thể được thực hiện thông qua các phương pháp như: khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành của người học, theo dõi tình trạng dinh dưỡng của trẻ, và phỏng vấn sâu các đối tượng liên quan. Kết quả đánh giá sẽ giúp cải thiện chất lượng chương trình và đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra.

IV. Ứng Dụng Thực Tế Nghiên Cứu Tại Huyện Thạch Hà Hà Tĩnh

Nghiên cứu tại huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh năm 2017 đã đánh giá sự thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con dưới 24 tháng tuổi sau can thiệp giáo dục dinh dưỡng. Kết quả cho thấy, sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ có nhận thức đúng về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn tăng từ 53,3% lên 72%. Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về số lượng mỗi bữa ăn cho trẻ 6-8 tháng tuổi cũng tăng đáng kể. Nghiên cứu này chứng minh hiệu quả của giáo dục dinh dưỡng trong việc nâng cao nhận thức của các bà mẹ và cải thiện chế độ ăn cho trẻ.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Nhận Thức Trước Và Sau Can Thiệp

Trước khi can thiệp giáo dục dinh dưỡng, nhận thức của các bà mẹ về chế độ ăn cho con còn nhiều hạn chế. Sau can thiệp, nhận thức của các bà mẹ đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt là về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn, khái niệm ăn bổ sung, và số lượng mỗi bữa ăn cho trẻ theo độ tuổi. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, chứng tỏ hiệu quả của chương trình giáo dục.

4.2. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Nghiên Cứu

Nghiên cứu tại huyện Thạch Hà đã rút ra những bài học kinh nghiệm quan trọng trong việc triển khai các chương trình giáo dục dinh dưỡng. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan y tế, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội. Nội dung giáo dục cần phù hợp với trình độ và nhu cầu của người học. Cần sử dụng các phương pháp truyền thông đa dạng và linh hoạt để tiếp cận được nhiều đối tượng. Cần đánh giá hiệu quả của chương trình để có những điều chỉnh phù hợp.

V. Kết Luận Giáo Dục Dinh Dưỡng Đầu Tư Cho Tương Lai

Nâng cao nhận thức về chế độ ăn cho trẻ dưới 24 tháng tuổi thông qua giáo dục dinh dưỡng là một đầu tư quan trọng cho tương lai của đất nước. Khi trẻ được nuôi dưỡng tốt, trẻ sẽ phát triển khỏe mạnh, thông minh và có khả năng học tập tốt hơn. Điều này góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động giáo dục dinh dưỡng, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em còn cao.

5.1. Hướng Đi Mới Trong Giáo Dục Dinh Dưỡng

Trong tương lai, cần có những hướng đi mới trong giáo dục dinh dưỡng, như: tăng cường sử dụng công nghệ thông tin để truyền tải thông tin, phát triển các chương trình giáo dục trực tuyến, và xây dựng các cộng đồng hỗ trợ dinh dưỡng trực tuyến. Cần chú trọng đến việc giáo dục dinh dưỡng cho cả gia đình, không chỉ riêng bà mẹ, để tạo ra một môi trường dinh dưỡng lành mạnh cho trẻ.

5.2. Chính Sách Hỗ Trợ Dinh Dưỡng Cho Trẻ Em

Để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em, cần có những chính sách hỗ trợ từ nhà nước, như: tăng cường đầu tư cho các chương trình dinh dưỡng, cung cấp các sản phẩm dinh dưỡng miễn phí hoặc giá rẻ cho trẻ em nghèo, và xây dựng các hệ thống giám sát dinh dưỡng hiệu quả. Cần có sự phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan để đảm bảo thực hiện hiệu quả các chính sách này.

05/06/2025
Luận văn thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con dưới 24 tháng tuổi tại huyện thạch hà tỉnh hà tĩnh năm 2017 sau giáo dục dinh dưỡng

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Mọi lứa tuổi đều có nguy cơ SDD nhƣng thƣờng gặp nhất ở trẻ dƣới 5 tuổi, đặc biệt là nhóm trẻ trong giai đoạn 6 – 24 tháng tuổi [5],[8]. Dinh dƣỡng hợp lý ở giai đoạn này là vô cùng quan trọng trong việc giúp trẻ có thể phát triển đƣợc hết tiềm năng của cơ thể. Hai năm đầu đời của trẻ là giai đoạn cao điểm của tình trạng chậm tăng trƣởng, thiếu vi chất dinh dƣỡng, và các bệnh nhiễm khuẩn. Việc tăng cƣờng vi chất dinh dƣỡng từ các thực phẩm thiết yếu là biện pháp đơn giản, có hiệu quả, dễ đạt độ bao phủ cao và có tính bền vững để giảm thiểu sự thiếu hụt các vi chất dinh dƣỡng trong bữa ăn hàng ngày.

Có rất nhiều vấn đề cần quan tâm, đặc biệt là chế độ ăn hàng ngày cho trẻ bao gồm bú sữa mẹ và ăn bổ sung. Cho ăn bổ sung không hợp lý, không đảm bảo đủ về số lƣợng và chất lƣợng là nguyên nhân chính dẫn đến suy dinh dƣỡng trong hai năm đầu đời. Ƣớc tính khoảng 6% trƣờng hợp tử vong trẻ em dƣới 5 tuổi có thể ngăn ngừa bằng cách đảm bảo cho ăn bổ sung đúng khoa học [25]. Tuy nhiên theo số liệu thống kê của Viện dinh dƣỡng – Unicef về tình hình cho trẻ ăn bổ sung năm 2010 chỉ có 51,7% trẻ em đƣợc ăn bổ sung đúng và đủ [24].

Nghiên cứu của Ogumba.O tại Nigeria thấy chỉ có 20% bà mẹ có thái độ đúng về cho con ăn dặm [22].A và cộng sự đã nghiên cứu về hiệu quả của chƣơng trình giáo dục sức khỏe lên kiến thức và thái độ của bà mẹ về cho con ăn dặm tại Ấn Độ đã cho kết quả: bà mẹ có kiến thức đúng là 14% và thái độ đúng là 50% trƣớc khi tham gia chƣơng trình giáo dục sức khỏe [19]. Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Năng cho thấy mối liên quan giữa kiến thức, thái độ của bà mẹ với tình trạng SDD của con: Những bà mẹ có kiến thức đúng về cho con ăn dặm có tỷ lệ con bị SDD nhẹ cân bằng 0,42 lần so với những bà mẹ có kiến thức chƣa đúng, những bà mẹ có kiến thức đúng về cho con ăn dặm có tỷ lệ con bị SDD thấp còi bằng 0,43 lần so với những bà mẹ có kiến thức chƣa đúng [6]. Tình trạng dinh dƣỡng của trẻ có liên quan trực tiếp đến nhận thức nuôi dƣỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Cải thiện nhận thức nuôi dƣỡng trẻ sơ sinh và trẻ 2 nhỏ dƣới 24 tháng tuổi là rất quan trọng trong việc cải thiện dinh dƣỡng, sức khỏe và sự phát triển của trẻ em.

Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo rằng trẻ em nên đƣợc nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và bắt đầu cho ăn bổ sung từ sau 6 tháng. Tuy nhiên hiện nay trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam thực hành về chế độ ăn cho ở trẻ dƣới 24 tháng gặp nhiều khó khăn liên quan tới kiến thức, thái độ của bà mẹ, tình trạng thiếu lƣơng thực, sự tiếp cận thông tin…đặc biệt là ở những vùng có điều kiện khó khăn. Trong nƣớc đã có các đề tài nghiên cứu về thực trạng chế độ ăn cho độ tuổi này nhƣng rất ít nghiên cứu can thiệp về vấn đền này. Do đó để có đƣợc bức tranh về nhận thức nuôi dƣỡng trẻ của bà mẹ và từ đó xây dựng các hoạt động can thiệp dinh dƣỡng phù hợp cho các bà mẹ có con dƣới 24 tháng tuổi về chế độ ăn cho con, thực hiện chiến lƣợc quốc gia về dinh dƣỡng giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 để làm giảm tỉ lệ suy dinh dƣỡng trẻ em.

Huyện Thạch Hà là một huyện của tỉnh Hà Tĩnh gồm có 30 xã và một thị trấn trong đó các xã phân bố theo 3 vùng gồm: vùng miền núi, vùng biển, vùng đồng bằng. Theo báo cáo của Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản Tỉnh năm 2015 tỷ lệ suy dinh dƣỡng thể thấp còi còn cao 27. Gần đây chƣa có nghiên cứu nào liên quan đến nhận thức về chế độ ăn cho con của các bà mẹ đƣợc thực hiện tại huyện. Chính vì thế mà xuất phát từ tính cấp thiết và thực tiễn, chúng tôi tiến hành đề tài: "Thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con dƣới 24 tháng tuổi tại huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh năm 2017 sau giáo dục dinh dƣỡng" 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đánh giá sự thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con dƣới 24 tháng tuổi ngay sau giáo dục dinh dƣỡng và sau giáo dục dinh dƣỡng 1 tháng.

4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Chế độ ăn cho trẻ trong 24 tháng tuổi 1. Một số định nghĩa về nuôi con bằng sữa mẹ: - Nuôi con bằng sữa mẹ là đứa trẻ đƣợc bú mẹ trực tiếp hoặc sữa mẹ vắt ra [15]. - Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là đứa trẻ chỉ bú sữa từ mẹ hoặc vú nuôi hoặc từ vú mẹ vắt ra.

Ngoài ra, không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay rắn khác trừ các dạng giọt, Siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổ sung hoặc thuốc [15]. - Sữa non: Vài ngày đầu sau đẻ, vú mẹ tiết ra sữa non. Sữa non có màu vàng và sánh hơn sữa về sau, nó chứa nhiều kháng thể hơn. Đó chính là cái trẻ cần khi nó vừa ra đời.

Sữa non giúp trẻ chống lại hầu hết các vi khuẩn và siêu vi khuẩn mà nó có thể gặp. Sữa non có tác dụng sổ nhẹ, giúp cho việc đào thải phân su, trẻ đỡ bị vàng da. Sữa non chỉ tiết ra một lƣợng nhỏ song đủ cho một đứa trẻ bình thƣờng [15]. Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ * Giúp trẻ tăng trưởng, phát triển hài hòa và phòng chống suy dinh dưỡng.

- Sữa mẹ là nguồn dinh dƣỡng hoàn hảo, dễ tiêu hóa, hấp thu đối với trẻ. Sữa mẹ có số lƣợng protein (đạm) ít hơn sữa động vật vì vậy rất phù hợp với chức năng đào thải khi thận của trẻ chƣa trƣởng thành. Bên cạnh đó protein trong sữa mẹ chủ yếu là protein dạng lỏng hòa tan, còn gọi là protein sữa (Whey protein) nên phù hợp với khả năng tiêu hóa và hấp thu của trẻ; còn protein trong sữa bò chủ yếu là casein (85%) nên khi vào dạ dày của trẻ nhỏ sẽ tạo thành các cục đông vón làm trẻ khó tiêu hóa và hấp thu, trẻ hay bị rối loạn tiêu hóa. Whey protein chứa các protein kháng khuẩn giúp trẻ có khả năng chống lại các bệnh nhiễm khuẩn.

5 Lipid (chất béo) trong sữa mẹ chiếm 50% năng lƣợng, thành phần acid béo không no nhiều hơn acid béo no. Sữa mẹ có đủ các acid béo cần thiết, giúp cho quá trình hoàn thiện não bộ, võng mạc và làm vững bền mạch máu, nhƣ: acid béo không no một nối đôi (acid oleic), acid béo không no đa nối đôi (acid α-linoleic, acid linoleic), tiền tố của DHA (Decosahexaenoic acid) và ARA (arachidonic acid). Trong sữa động vật không có các acid béo này. Carbonhydrat (glucid và đƣờng) trong sữa mẹ nhiều hơn sữa bò, cung cấp năng lƣợng, 85% là lactose tăng cƣờng hấp thu calci và 15% là oligosaccharid hỗ trợ cho sự phát triển vi khuẩn có lợi cho trẻ.

Sữa mẹ có đủ các vitamin (A, B1, B2, C …), khoáng chất (Calci, phospho …) và các nguyên tố vi lƣợng (sắt, kẽm, đồng, selen …) đáp ứng đủ nhu cầu trẻ nhỏ, giúp trẻ phòng chống thiếu vi chất và bảo vệ cơ thể chống quá trình oxy hóa. * Bảo vệ trẻ chống nhiễm khuẩn Sữa mẹ chứa các tế bào bạch cầu (lympho bào, đại thực bào), globulin miễn dịch (IgA, IgG, IgM), một số yếu tố kích thích sự phát triển của vi khuẩn Lactobacillus Bifidus (Lactose, Oligosaccharid, yếu tố Bifidus), giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn nhƣ tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, viêm tai, viêm màng não và nhiễm khuẩn tiết niệu. Sữa mẹ cũng chứa những kháng thể chống các bệnh nhiễm khuẩn mà bà mẹ đã từng mắc bệnh. Khi bà mẹ bị nhiễm khuẩn, các tế bào bạch cầu hoạt động và sản xuất kháng thể để bảo vệ ngƣời mẹ, một số tế bào bạch cầu đi tới vú và sản xuất kháng thể tại đó, các kháng thể này đƣợc tiết vào sữa để bảo vệ trẻ chống nhiễm khuẩn.

Vì vậy khi mẹ bị bệnh nhiễm khuẩn thì vẫn có thể cho con bú, không nên cách ly mẹ và con. * Giúp cải thiện tâm lý cho bà mẹ và trẻ Bà mẹ thƣờng xuyên tiếp xúc, gần gũi con sẽ giúp gắn bó tình cảm mẹ và con, bà mẹ cảm thấy thoải mái tinh thần, yên tâm và giảm đƣợc sự lo âu, trầm cảm sau sinh. 6 Trẻ đƣợc tiếp xúc gần gũi mẹ, đƣợc âu yếm sẽ ít khóc hơn, cảm giác an toàn hơn, tinh thần, trí tuệ trẻ phát triển tốt hơn. * Góp phần bảo vệ sức khỏe bà mẹ Giảm nguy cơ băng huyết, thiếu máu sau sinh; Giảm nguy cơ ung thƣ vú, buồng trứng; Chậm có thai trở lại (đặc biệt là giai đoạn NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu sẽ đạt hiệu quả cao trong việc tránh thai an toàn); Hồi phục nhanh cân nặng, vóc dáng ban đầu.

* Chi phí ít hơn so với nuôi nhân tạo NCBSM chi phí ít hơn so với nuôi nhân tạo, tiết kiệm đƣợc kinh tế cho gia đình, cộng đồng và ngân sách quốc gia. * Góp phần bảo vệ sức khỏe của trẻ trong quá trình trưởng thành Sữa mẹ bảo vệ trẻ không tăng cân quá mức (thừa cân, béo phì) nhất là trong hai năm đầu đời và giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính khi trƣởng thành (tiểu đƣờng, tim mạch, huyết áp …). Do sữa mẹ có các hormone Leptin, Ghrelin, IGF-1 (Insulin Growth Factor 1) tham gia điều chỉnh ăn uống và cân bằng năng lƣợng [15]. Vai trò dinh dƣỡng của sữa mẹ trong năm thứ hai Từ 6 tháng trở đi, sữa mẹ vẫn giữ vai trò quan trọng cung cấp năng lƣợng và các chất dinh dƣỡng cho trẻ.

Trong đó từ 6 tháng đến 12 tháng, sữa mẹ tiếp tục cung cấp trên ½ nhu cầu dinh dƣỡng của trẻ. Tuy nhiên, sữa mẹ sẽ không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dƣỡng ngày càng tăng lên theo sự phát triển của trẻ, vì vậy ngoài sữa mẹ trẻ cần đƣợc ăn bổ sung. Trong năm thứ hai, sữa mẹ vẫn đáp ứng đƣợc khoảng 30% nhu cầu năng lƣợng, 50% nhu cầu protein và 45% - 75% nhu cầu vitamin A cho trẻ, ngoài ra còn cung cấp các yếu tố kháng khuẩn bảo vệ trẻ khỏi mắc nhiều loại bệnh. Bên cạnh đó, giai đoạn này sữa mẹ vẫn tiếp tục đóng vai trò trong phát triển trí tuệ và nhận thức của trẻ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ