ĐẶT VẤN ĐỀ Mọi lứa tuổi đều có nguy cơ SDD nhƣng thƣờng gặp nhất ở trẻ dƣới 5 tuổi, đặc biệt là nhóm trẻ trong giai đoạn 6 – 24 tháng tuổi [5],[8]. Dinh dƣỡng hợp lý ở giai đoạn này là vô cùng quan trọng trong việc giúp trẻ có thể phát triển đƣợc hết tiềm năng của cơ thể. Hai năm đầu đời của trẻ là giai đoạn cao điểm của tình trạng chậm tăng trƣởng, thiếu vi chất dinh dƣỡng, và các bệnh nhiễm khuẩn. Việc tăng cƣờng vi chất dinh dƣỡng từ các thực phẩm thiết yếu là biện pháp đơn giản, có hiệu quả, dễ đạt độ bao phủ cao và có tính bền vững để giảm thiểu sự thiếu hụt các vi chất dinh dƣỡng trong bữa ăn hàng ngày.
Có rất nhiều vấn đề cần quan tâm, đặc biệt là chế độ ăn hàng ngày cho trẻ bao gồm bú sữa mẹ và ăn bổ sung. Cho ăn bổ sung không hợp lý, không đảm bảo đủ về số lƣợng và chất lƣợng là nguyên nhân chính dẫn đến suy dinh dƣỡng trong hai năm đầu đời. Ƣớc tính khoảng 6% trƣờng hợp tử vong trẻ em dƣới 5 tuổi có thể ngăn ngừa bằng cách đảm bảo cho ăn bổ sung đúng khoa học [25]. Tuy nhiên theo số liệu thống kê của Viện dinh dƣỡng – Unicef về tình hình cho trẻ ăn bổ sung năm 2010 chỉ có 51,7% trẻ em đƣợc ăn bổ sung đúng và đủ [24].
Nghiên cứu của Ogumba.O tại Nigeria thấy chỉ có 20% bà mẹ có thái độ đúng về cho con ăn dặm [22].A và cộng sự đã nghiên cứu về hiệu quả của chƣơng trình giáo dục sức khỏe lên kiến thức và thái độ của bà mẹ về cho con ăn dặm tại Ấn Độ đã cho kết quả: bà mẹ có kiến thức đúng là 14% và thái độ đúng là 50% trƣớc khi tham gia chƣơng trình giáo dục sức khỏe [19]. Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Năng cho thấy mối liên quan giữa kiến thức, thái độ của bà mẹ với tình trạng SDD của con: Những bà mẹ có kiến thức đúng về cho con ăn dặm có tỷ lệ con bị SDD nhẹ cân bằng 0,42 lần so với những bà mẹ có kiến thức chƣa đúng, những bà mẹ có kiến thức đúng về cho con ăn dặm có tỷ lệ con bị SDD thấp còi bằng 0,43 lần so với những bà mẹ có kiến thức chƣa đúng [6]. Tình trạng dinh dƣỡng của trẻ có liên quan trực tiếp đến nhận thức nuôi dƣỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Cải thiện nhận thức nuôi dƣỡng trẻ sơ sinh và trẻ 2 nhỏ dƣới 24 tháng tuổi là rất quan trọng trong việc cải thiện dinh dƣỡng, sức khỏe và sự phát triển của trẻ em.
Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo rằng trẻ em nên đƣợc nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và bắt đầu cho ăn bổ sung từ sau 6 tháng. Tuy nhiên hiện nay trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam thực hành về chế độ ăn cho ở trẻ dƣới 24 tháng gặp nhiều khó khăn liên quan tới kiến thức, thái độ của bà mẹ, tình trạng thiếu lƣơng thực, sự tiếp cận thông tin…đặc biệt là ở những vùng có điều kiện khó khăn. Trong nƣớc đã có các đề tài nghiên cứu về thực trạng chế độ ăn cho độ tuổi này nhƣng rất ít nghiên cứu can thiệp về vấn đền này. Do đó để có đƣợc bức tranh về nhận thức nuôi dƣỡng trẻ của bà mẹ và từ đó xây dựng các hoạt động can thiệp dinh dƣỡng phù hợp cho các bà mẹ có con dƣới 24 tháng tuổi về chế độ ăn cho con, thực hiện chiến lƣợc quốc gia về dinh dƣỡng giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 để làm giảm tỉ lệ suy dinh dƣỡng trẻ em.
Huyện Thạch Hà là một huyện của tỉnh Hà Tĩnh gồm có 30 xã và một thị trấn trong đó các xã phân bố theo 3 vùng gồm: vùng miền núi, vùng biển, vùng đồng bằng. Theo báo cáo của Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản Tỉnh năm 2015 tỷ lệ suy dinh dƣỡng thể thấp còi còn cao 27. Gần đây chƣa có nghiên cứu nào liên quan đến nhận thức về chế độ ăn cho con của các bà mẹ đƣợc thực hiện tại huyện. Chính vì thế mà xuất phát từ tính cấp thiết và thực tiễn, chúng tôi tiến hành đề tài: "Thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con dƣới 24 tháng tuổi tại huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh năm 2017 sau giáo dục dinh dƣỡng" 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đánh giá sự thay đổi nhận thức của bà mẹ về chế độ ăn cho con dƣới 24 tháng tuổi ngay sau giáo dục dinh dƣỡng và sau giáo dục dinh dƣỡng 1 tháng.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Chế độ ăn cho trẻ trong 24 tháng tuổi 1. Một số định nghĩa về nuôi con bằng sữa mẹ: - Nuôi con bằng sữa mẹ là đứa trẻ đƣợc bú mẹ trực tiếp hoặc sữa mẹ vắt ra [15]. - Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là đứa trẻ chỉ bú sữa từ mẹ hoặc vú nuôi hoặc từ vú mẹ vắt ra.
Ngoài ra, không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay rắn khác trừ các dạng giọt, Siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổ sung hoặc thuốc [15]. - Sữa non: Vài ngày đầu sau đẻ, vú mẹ tiết ra sữa non. Sữa non có màu vàng và sánh hơn sữa về sau, nó chứa nhiều kháng thể hơn. Đó chính là cái trẻ cần khi nó vừa ra đời.
Sữa non giúp trẻ chống lại hầu hết các vi khuẩn và siêu vi khuẩn mà nó có thể gặp. Sữa non có tác dụng sổ nhẹ, giúp cho việc đào thải phân su, trẻ đỡ bị vàng da. Sữa non chỉ tiết ra một lƣợng nhỏ song đủ cho một đứa trẻ bình thƣờng [15]. Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ * Giúp trẻ tăng trưởng, phát triển hài hòa và phòng chống suy dinh dưỡng.
- Sữa mẹ là nguồn dinh dƣỡng hoàn hảo, dễ tiêu hóa, hấp thu đối với trẻ. Sữa mẹ có số lƣợng protein (đạm) ít hơn sữa động vật vì vậy rất phù hợp với chức năng đào thải khi thận của trẻ chƣa trƣởng thành. Bên cạnh đó protein trong sữa mẹ chủ yếu là protein dạng lỏng hòa tan, còn gọi là protein sữa (Whey protein) nên phù hợp với khả năng tiêu hóa và hấp thu của trẻ; còn protein trong sữa bò chủ yếu là casein (85%) nên khi vào dạ dày của trẻ nhỏ sẽ tạo thành các cục đông vón làm trẻ khó tiêu hóa và hấp thu, trẻ hay bị rối loạn tiêu hóa. Whey protein chứa các protein kháng khuẩn giúp trẻ có khả năng chống lại các bệnh nhiễm khuẩn.
5 Lipid (chất béo) trong sữa mẹ chiếm 50% năng lƣợng, thành phần acid béo không no nhiều hơn acid béo no. Sữa mẹ có đủ các acid béo cần thiết, giúp cho quá trình hoàn thiện não bộ, võng mạc và làm vững bền mạch máu, nhƣ: acid béo không no một nối đôi (acid oleic), acid béo không no đa nối đôi (acid α-linoleic, acid linoleic), tiền tố của DHA (Decosahexaenoic acid) và ARA (arachidonic acid). Trong sữa động vật không có các acid béo này. Carbonhydrat (glucid và đƣờng) trong sữa mẹ nhiều hơn sữa bò, cung cấp năng lƣợng, 85% là lactose tăng cƣờng hấp thu calci và 15% là oligosaccharid hỗ trợ cho sự phát triển vi khuẩn có lợi cho trẻ.
Sữa mẹ có đủ các vitamin (A, B1, B2, C …), khoáng chất (Calci, phospho …) và các nguyên tố vi lƣợng (sắt, kẽm, đồng, selen …) đáp ứng đủ nhu cầu trẻ nhỏ, giúp trẻ phòng chống thiếu vi chất và bảo vệ cơ thể chống quá trình oxy hóa. * Bảo vệ trẻ chống nhiễm khuẩn Sữa mẹ chứa các tế bào bạch cầu (lympho bào, đại thực bào), globulin miễn dịch (IgA, IgG, IgM), một số yếu tố kích thích sự phát triển của vi khuẩn Lactobacillus Bifidus (Lactose, Oligosaccharid, yếu tố Bifidus), giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn nhƣ tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, viêm tai, viêm màng não và nhiễm khuẩn tiết niệu. Sữa mẹ cũng chứa những kháng thể chống các bệnh nhiễm khuẩn mà bà mẹ đã từng mắc bệnh. Khi bà mẹ bị nhiễm khuẩn, các tế bào bạch cầu hoạt động và sản xuất kháng thể để bảo vệ ngƣời mẹ, một số tế bào bạch cầu đi tới vú và sản xuất kháng thể tại đó, các kháng thể này đƣợc tiết vào sữa để bảo vệ trẻ chống nhiễm khuẩn.
Vì vậy khi mẹ bị bệnh nhiễm khuẩn thì vẫn có thể cho con bú, không nên cách ly mẹ và con. * Giúp cải thiện tâm lý cho bà mẹ và trẻ Bà mẹ thƣờng xuyên tiếp xúc, gần gũi con sẽ giúp gắn bó tình cảm mẹ và con, bà mẹ cảm thấy thoải mái tinh thần, yên tâm và giảm đƣợc sự lo âu, trầm cảm sau sinh. 6 Trẻ đƣợc tiếp xúc gần gũi mẹ, đƣợc âu yếm sẽ ít khóc hơn, cảm giác an toàn hơn, tinh thần, trí tuệ trẻ phát triển tốt hơn. * Góp phần bảo vệ sức khỏe bà mẹ Giảm nguy cơ băng huyết, thiếu máu sau sinh; Giảm nguy cơ ung thƣ vú, buồng trứng; Chậm có thai trở lại (đặc biệt là giai đoạn NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu sẽ đạt hiệu quả cao trong việc tránh thai an toàn); Hồi phục nhanh cân nặng, vóc dáng ban đầu.
* Chi phí ít hơn so với nuôi nhân tạo NCBSM chi phí ít hơn so với nuôi nhân tạo, tiết kiệm đƣợc kinh tế cho gia đình, cộng đồng và ngân sách quốc gia. * Góp phần bảo vệ sức khỏe của trẻ trong quá trình trưởng thành Sữa mẹ bảo vệ trẻ không tăng cân quá mức (thừa cân, béo phì) nhất là trong hai năm đầu đời và giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính khi trƣởng thành (tiểu đƣờng, tim mạch, huyết áp …). Do sữa mẹ có các hormone Leptin, Ghrelin, IGF-1 (Insulin Growth Factor 1) tham gia điều chỉnh ăn uống và cân bằng năng lƣợng [15]. Vai trò dinh dƣỡng của sữa mẹ trong năm thứ hai Từ 6 tháng trở đi, sữa mẹ vẫn giữ vai trò quan trọng cung cấp năng lƣợng và các chất dinh dƣỡng cho trẻ.
Trong đó từ 6 tháng đến 12 tháng, sữa mẹ tiếp tục cung cấp trên ½ nhu cầu dinh dƣỡng của trẻ. Tuy nhiên, sữa mẹ sẽ không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dƣỡng ngày càng tăng lên theo sự phát triển của trẻ, vì vậy ngoài sữa mẹ trẻ cần đƣợc ăn bổ sung. Trong năm thứ hai, sữa mẹ vẫn đáp ứng đƣợc khoảng 30% nhu cầu năng lƣợng, 50% nhu cầu protein và 45% - 75% nhu cầu vitamin A cho trẻ, ngoài ra còn cung cấp các yếu tố kháng khuẩn bảo vệ trẻ khỏi mắc nhiều loại bệnh. Bên cạnh đó, giai đoạn này sữa mẹ vẫn tiếp tục đóng vai trò trong phát triển trí tuệ và nhận thức của trẻ.