Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài luận án 1. Phát triển ngành trồng trọt theo hướng ứng dụng công nghệ cao 1. Lý luận về phát triển ngành trồng trọt “Theory and practice in plantation agriculture: an economic review” được viết bởi Mary Tiffen and Michael Mortimore (1990)[44] có thể được coi là một trong những tài liệu đầu tiên nghiên cứu về PTNTT trên giác độ kinh tế.
Trong bản nghiên cứu này, hai nhà khoa học đã phác thảo sơ lược khung lý thuyết về PTNTT trong bối cảnh cần đánh giá một cách khoa học hơn phương thức canh tác theo mô hình điền trang phổ biến ở nhiều quốc gia lúc bây giờ, đặc biệt là châu Mỹ. Sự PTNTT được tác giả phân tích kĩ lưỡng trên các giác độ như sở hữu đất đai, vốn, lao động, tính địa phương, thể chế chính trị và luật pháp. Có thể đánh giá tác phẩm còn tương đối giản đơn nhưng gợi mở nhiều tri thức quý báu cho việc PTNTT. Xét PTNTT trên giác độ quản lý kinh tế của nhà nước, các tác giả chỉ ra có thể tồn tại sự mâu thuẫn giữa quá trình PTNTT theo quy mô điền trang với các mục tiêu chính sách của chính phủ.
PTNTT theo hướng tích tụ, tập trung ruộng đất nhằm mục tiêu sản xuất hàng hóa số lượng lớn có thể mâu thuẫn với nhiệm vụ tạo ra công bằng xã hội của chính quyền. Để đảm bảo PTNTT phù hợp với định hướng phát triển kinh tế và thể chế chính trị của quốc gia, các nhà lập pháp sẽ cần phải cân nhắc cụ thể. Phân tích sự phát triển của ngành trồng trọt dựa trên giác độ lịch sử, I. Farrington và James Urry (1985) [40] có bài nghiên cứu “Food and the early history of cultivation”.
Nền tảng cơ bản cho sự hình thành ngành trồng trọt là do sở thích và văn hóa của các dân tộc trên thế giới. Trồng trọt nhằm mục tiêu mang lại những mặt hàng nông sản được nhiều người ưa chuộng như lương thực, rau màu, hoa quả và dược liệu. Sự phát triển của ngành trồng trọt, đặc biệt là thâm canh, được nâng cao bởi các yếu tố văn hóa đề cao vai trò của thực phẩm trong xã hội. Bên cạnh đó, khi sự trao đổi hàng hóa diễn ra ngày càng phổ biến, trồng trọt lại càng được mở rộng, không chỉ để đáp ứng nhu 9 cầu sử dụng của cộng đồng mà còn được sử dụng như vật trao đổi ngang giá trong các giao dịch ở thời điểm chưa có sự ra đời của tiền tệ.
Theo quan điểm của hai tác giả, sự phát triển của trồng trọt phải được coi là một thành tựu văn hóa lớn, tạo thêm phương thức khai thác các nguồn tài nguyên và tôn tạo, mở rộng mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Trong bài nghiên cứu “Induced innovation and agricultural development” của Vernon W. Ông đã tổng kết lại những nét chính của các mô hình, từ đó đề xuất thêm một phương thức PTNTT đó là coi việc thay đổi khoa học kĩ thuật như một nhân tố nội sinh. Nói cách khác, trong mô hình mới do ông xây dựng thì đổi mới khoa học kĩ thuật là yếu tố nội sinh của quá trình PTNTT, không phải là yếu tố ngoại lai độc lập.
Từ đó, tác giả nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa việc xây dựng một cơ chế quản lý nông nghiệp phù hợp để thúc đẩy việc áp dụng những tiến bộ công nghệ vào trồng trọt cho phù hợp và hiệu quả hơn. Nghiên cứu về phát triển trồng trọt dựa trên giác độ quản lý, tác giả David Kahan (2008) trong cuốn sách “Economics for farm management extension” [37] đã chỉ ra đường hướng để các hộ nông dân có thể mở rộng sản xuất trên diện tích đất đai có hạn của họ. Theo nghiên cứu của tác giả, để có thể phát triển trồng trọt tại nông trại, các hộ nông dân cần nắm vững các kiến thức cơ bản về quản lý kinh tế quy mô nhỏ. Các yếu tố mà người nông dân cần quan tâm và có tác động trực tiếp đến quyết định của họ trong quá trình canh tác bao gồm: nguồn tài nguyên thiên nhiên (thổ nhưỡng, nước, khí hậu), lao động và vốn.
Đồng thời, khi phát triển trồng trọt, các chủ nông trại cũng đối mặt với rủi ro như: rủi ro sản xuất, rủi ro thị trường, rủi ro tài chính, rủi ro hoạt động và rủi ro nhân sự. Do đó, phát triển trồng trọt đòi hỏi người nông dân có những lựa chọn đúng đắn, phù hợp để đảm bảo sự phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có và khả năng quản lý. 10 Trong cuốn sách “Agriculture in Hokkaido” [53] được thực hiện bởi trường Đại học Hokkaido năm 2009, quá trình PTNTT của tỉnh Hokkaido đã được phân tích kĩ lưỡng. Ngành trồng trọt ở Hokkaido phát triển mạnh vào năm 1868; thời điểm Chính phủ Minh Trị được thành lập.
Những chiến binh bị tước bỏ phong hiệu và những nông dân nghèo nhập cư là đội quân tiên phong khai hoang, xây dựng nền trồng trọt ở đây. Mặc dù thời tiết khắc nghiệt, thời gian lạnh trong năm kéo dài, Hokkaido dẫn đầu về nông nghiệp ở Nhật Bản, tự hào đứng đầu về sản lượng gạo, lúa mì, khoai tây, đậu, củ cải đường và rau. Cuốn sách miêu tả quá trình PTNTT của tỉnh dựa trên tiêu thức các loại cây trồng, gồm nhóm cây lương thực, nhóm cây ăn quả lâu năm, nhóm cây hoa màu và hoa cảnh. Đặc biệt, quá trình tiến PTNTT của tỉnh Hokkaido theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng được đề cập trong cuốn sách này.
PTNTT theo hướng ứng dụng CNC PTNTT theo hướng ứng dụng CNC là việc tăng giá trị kinh tế do ngành trồng trọt mang lại dựa trên nền tảng máy móc, trang thiết bị hiện đại, ứng dụng các loại hình công nghệ khoa học tiên tiến, đảm bảo vừa tăng hiệu quả kinh tế vừa bảo vệ môi trường. Các công trình nghiên cứu liên quan đến PTNTT theo hướng ứng dụng CNC đã được thực ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam, dưới đây NCS xin lược khảo một số tài liệu quan trọng: A. Mặc dù phương pháp tưới nhỏ giọt rất thích hợp cho các loại cây trồng thâm canh như mía, trước đó không có nhiều nghiên cứu đưa ra khả năng kinh tế của nó bằng cách sử dụng dữ liệu được thu thập từ ruộng của nông dân. Do đó, trong nghiên cứu điển hình này, tác giả đã thực hiện nghiên cứu những lợi thế kinh tế khác nhau của phương pháp tưới nhỏ giọt trong trồng mía bằng cách chọn một nông dân kiểu mẫu từ huyện Sivagangai ở Tamil Nadu.
Dữ liệu thu thập từ hộ nông dân kiểu mẫu cho thấy rõ ràng rằng phương pháp nhỏ giọt của tưới có nhiều ưu điểm 11 hơn so với phương pháp tưới bằng vòi trong canh tác mía. Với sản lượng mía là 30 tấn / mẫu Anh, phương pháp tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước khoảng 58% so với phương pháp bằng vòi. Do ít tiêu thụ nước giếng, người nông dân có thể tiết kiệm khoảng 1260 kwh/mẫu Anh điện, được sử dụng để bơm nước từ giếng. Phân tích dòng tiền chiết khấu của dự án đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt cho thấy đầu tư tưới nhỏ giọt trong trồng mía mang liệu hiệu quả kinh tế cao, kể cả khi không có trợ cấp nào từ chính phủ.
Tỷ lệ lợi ích-chi phí thay đổi từ 1,98 đến 2,02 trong điều kiện không có điều kiện trợ cấp và điều kiện tương tự thay đổi từ 2,07 đến 2,10 với mức trợ cấp (30%) ở tỷ lệ chiết khấu khác nhau. “Analysis of HI-TECH Cultivation as an Innovative Method for Floriculture in Vidarbha” của Shilpa Kalmegh và Narpat Singh (2016) đã nhận định PTNTT theo hướng ứng dụng CNC là chìa khóa mở ra thành công cho Vindarbha [48]. Trồng hoa là ngành mới nổi nhanh chóng và có tính cạnh tranh cao ở Ấn Độ với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 8% đến 10%. Vidarbha là vùng có nhiều mưa và do điều kiện khí hậu này nên PTNTT theo hướng ứng dụng CNC rất được khuyến khích.
Canh tác CNC là canh tác trong điều kiện nhiệt độ được kiểm soát, mang lại sản lượng gấp 3 đến 10 lần so với canh tác truyền thống. Nghiên cứu này tập trung làm rõ phương hướng PTNTT theo hướng ứng dụng CNC tại Vidarbha thông qua việc thúc đẩy nông dân tới canh tác theo hướng sản xuất hàng hóa. Các tác giả chỉ ra rằng động lực thúc đẩy PTNTT theo hướng ứng dụng CNC đó là sự phối kết hợp giữa đầu tư cho hệ thống cơ sở vật canh tác CNC (xây dựng nhà kính, nhà lưới), hệ thống tự động hóa quản lý cây trồng (hệ thống tưới tiêu tự động, kiểm soát dịch hại tự động…) với quá trình xây dựng, phát triển thương hiệu nông sản CNC. “Sustainable Vegetable Cultivation in Kerala: The Case of Polyhouse Farming” của Kumar C.
Nguồn rau cung cấp cho Kerala phụ thuộc phần lớn vào các bang lân cận. Nhằm đảm bảo đủ nhu cầu rau an toàn cho người dân cũng như giải quyết các vấn đề hạn chế liên quan đến đất đai, lao động, tác giả bài nghiên cứu đã đề xuất hướng 12 PTNTT theo hướng ứng dụng CNC ở Kerala và công nghệ ở đây là làm hệ thống nhà kính polyhouse. Nghiên cứu phân tích định lượng về chi phí xây dựng, các khoản trợ cấp và lợi nhuận thu được từ hoạt động trồng rau trong nhà kính. Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ việc khảo sát 6 quận thuộc Kerala cho thấy chi phí mà các nông hộ phải đầu tư cho nhà kính trồng rau cao hơn so với ước lượng chính phủ đưa ra.
Bên cạnh đó, với sự hạn chế về loại cây trồng trong nhà kính, cũng như chính sách quảng cáo còn nhiều thiếu sót đã làm quá trình canh tác ứng dụng CNC này không mang lại nhiều hiệu quả cho người nông dân Kerela. Từ kết quả của nghiên cứu, tác giả khuyến nghị rằng PTNTT theo hướng ứng dụng CNC cần phải có sự đầu tư đúng mức về KHCN cũng như xây dựng hình ảnh, thương hiệu cho nông sản CNC. “Implementation of artificial intelligence in agriculture for optimisation of irrigation and application of pesticides and herbicides” của Tanha Talaviya và cộng sự (2020) đã chỉ ra một trong những hướng PTNTT ứng dụng CNC đó là ứng dụng trí thông minh nhân tạo [50]. Nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong ngành kinh tế.
Tự động hóa trong nông nghiệp là một trong những chủ đề được toàn thế giới quan tâm trong những năm gần đây do dân số toàn cầu đang tăng nhanh chóng, dẫn đến nhu cầu về lương thực, việc làm cũng ngày càng tăng. Trong ngành trồng trọt, các phương pháp truyền thống được nông dân sử dụng không đủ để đáp ứng những yêu cầu này.