ĐẶT VẤN ĐỀ Mục tiêu Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp đến năm 2020, Việt Nam đạt 3,84 triệu ha rừng trồng sản xuất, trong đó có 2,4 triệu ha rừng trồng hiện có và 1,0 triệu ha rừng trồng mới và 0,35 triệu ha cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt, trong đó mỗi năm khai thác và trồng lại 0,25 triệu ha với trữ lƣợng gỗ lớn 150 m3 chu kỳ bình quân 12 năm và gỗ nhỏ 70 m3 chu kỳ bình quân 7 năm. Trong những năm gần đây, ngành Lâm nghiệp đã đạt đƣợc những thành tựu rất đáng kể, tốc độ tăng trƣởng của ngành giai đoạn 2010 - 2012 tăng 5,03%; năm 2013 tăng 6,04%, năm 2014 tăng 7,09% và năm 2015 tăng 7,8%; Kim ngạch xuất khẩu gỗ và đồ gỗ có tốc độ tăng trƣởng trung bình 15%/năm, trong đó kết quả đánh giá tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ năm 2016 của Việt Nam đạt gần 7,3 tỷ USD, đứng thứ 7 trong nhóm các mặt hàng/ngành hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam [2]. Trong giai đoạn từ năm 2002 - 2016, diện tích rừng trồng ở nƣớc ta đã tăng từ 3.541 triệu ha (trung bình tăng 75.163 ha/năm); Chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng đã tạo thêm nguồn lực mới cho ngành, góp phần tăng thu giá trị sản xuất cho ngƣời trồng rừng, ổn định cuộc sống [1]. Mặc dù đã đạt đƣợc những thành tựu trên, ngành Lâm nghiệp vẫn còn rất nhiều các thách thức đã và đang đặt ra cần giải quyết, năng suất và chất lƣợng rừng trồng đang có xu hƣớng giảm dần qua các chu kỳ kinh doanh, hơn nữa với các tập quán canh tác truyền thống nhƣ đốt các vật liệu hữu cơ, đào hố bằng lát cuốc, cày đất hoặc ủi chà gốc gây mất một lƣợng lớn chất dinh dƣỡng, không bón phân hoặc bón bằng phân hoá học, liều lƣợng chƣa đáp ứng nhu cầu sinh trƣởng của cây trồng cũng nhƣ gây ra những tác động có hại đến sinh vật có lợi trong đất.
Ở nƣớc ta nói chung và Quảng Trị nói riêng, phần lớn đất Lâm nghiệp là đất đồi núi dốc, nằm trong vùng có khí hậu mƣa mùa tập trung với lƣợng mƣa cao, đất qua các chu kỳ kinh doanh đang dần bị xói mòn rửa trôi mạnh, đất ngày càng nghèo dinh dƣỡng, khô cứng. Vì vậy, đất bị thoái hóa và suy giảm năng suất rừng ở các chu kỳ tiếp theo, cần thiết phải có các giải pháp về chính sách cũng nhƣ kỹ thuật trồng rừng để góp phần c 2 đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng bền vững, nâng cao năng suất và chất lƣợng rừng trồng sản xuất. Để khắc phục những tồn tại nêu trên, ngày 10/6/2013 Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành quyết định số 899/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hƣớng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Để triển khai có hiệu quả Quyết định này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành một loạt các văn bản quan trọng: i) Quyết định số 1656/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 của Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp; ii) Quyết định 774/QĐ-BNN-TCLN ngày 18/4/2014 của Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lƣợng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014- 2020; iii) Quyết định 986/QĐ-BNN-KHCN ngày 9/5/2014 của Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Kế hoạch thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng KHCN phục vụ tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hƣớng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực Lâm nghiệp là tập trung “ưu tiên nghiên cứu xây dựng gói kỹ thuật tối ưu về chuyển hoá rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng cung cấp gỗ lớn, trồng lại rừng sau khai thác, trồng rừng mới theo hướng thâm canh, giá thành phù hợp theo từng nhóm cây trồng ở các điều kiện lập địa khác nhau để chuyển giao vào thực tiễn”. Bên cạnh đó, Quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/11/2014 của Bộ NN&PTNT Ban hành danh mục các loài cây chủ lực cho trồng rừng sản xu t và danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng theo các vùng sinh thái Lâm nghi p, trong đó các loài sinh trƣởng nhanh nhƣ Keo và Bạch đàn đều có trong danh mục này và phù hợp với hầu hết các vùng sinh thái Lâm nghiệp nƣớc ta. Hơn nữa, các kết quả đánh giá khảo sát hiện trạng rừng trồng trên cả nƣớc đều cho thấy, Keo tai tƣợng là cây chủ lực trong trồng rừng công nghiệp cung cấp nguyên liệu gỗ, giấy, ván dăm; Sự phát triển rừng trồng Keo tai tƣợng đã có những đóng góp đáng kể trong phát triển kinh tế xã hội. Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu một số bi n pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm nân ao năn su t và ch t lượng rừn Keo ta tượn a a man um c 3 Wild tạ Quản Trị” đặt ra là rất cần thiết, có nghĩa về cả lý luận và thực tiễn sản xuất, góp phần nâng cao năng suất cũng nhƣ chất lƣợng sản phẩm gỗ rừng trồng, đáp ứng mục tiêu kinh doanh và mục tiêu nâng cao năng suất chất lƣợng rừng theo Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp.
c 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài - Quản lý lập địa đƣợc hiểu là toàn bộ những hoạt động của con ngƣời nhằm có đƣợc những dữ liệu tốt nhất về các yếu tố cấu thành lập địa (đất đai, thực vật, ngoại cảnh tự nhiên và các hoạt động xã hội khác…) làm căn cứ để sử dụng tài nguyên đất một cách tốt nhất. - Trồng rừng thâm canh là phƣơng pháp canh tác dựa trên cơ sở đƣợc đầu tƣ cao bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và liên hoàn. - Vật li u hữu ơ sau k a t rừng (VLHCSKT) đƣợc hiểu là toàn bộ cành, nhánh, vỏ, ngọn cây cây rừng trồng có đƣờng kính từ < 5 cm (phần không bán đƣợc), vật rơi rụng, cỏ dại và cây bụi dƣới tán rừng.
- Quản lý VLHCSKT là tổng hợp các biện pháp kỹ thuật tác động vào các VLHCSKT (cành, nhánh, vật rơi rụng, cỏ dại và cây bụi), có thể đốt trên toàn bộ diện tích hoặc giữ lại và cắt ngắn, rải đều trên toàn diện tích. - Quản lý thự ì dưới tán rừng đƣợc hiểu là các biện pháp kỹ thuật tác động vào lớp cây bụi - thảm tƣơi, cỏ dại dƣới tán rừng bằng nhiều kỹ thuật khác nhau nhƣ: phát thủ công (bằng tay hoặc bằng máy), phát theo băng, phun thuốc diệt cỏ,. - Kỹ thuật làm đ t trong đề tài bao gồm các biện pháp đang đƣợc áp dụng trong thực tiễn sản xuất lâm nghiệp (đào hố thủ công, cơ giới hoá), từ đó đánh giá hiệu quả của các biện pháp trong ứng dụng sản xuất. - Kỹ thuật tỉa thân - tỉa cành đƣợc hiểu là việc chọn lựa những cây từ 2 thân trở lên để áp dụng t a thân, ch giữ lại một thân có triển vọng nhất, t a cành đƣợc áp dụng trong đề tài là t a toàn bộ cành đến độ cao 2,5 m của cây rừng.
- Sinh khối trên mặt đ t là toàn bộ khối lƣợng các bộ phận trên mặt đất nhƣ thân, cành, lá, vỏ của cây Keo tai tƣợng và cây bụi - thảm tƣơi, vật rơi rụng, đƣợc sấy khô ở 105oC đến khối lƣợng không đổi. - C u trìn d n dưỡng của rừng trồng (tốc độ di chuyển, sự gia tăng và mất mát; sự tƣơng tác của thực vật - đất, sự phân bố sinh khối trên, dƣới mặt đất c 5 và các bộ phận rễ cây) là nền tảng cho kỹ thuật quản lý rừng, đặc biệt là xác định biến động phân bón trong đất, tỷ lệ phân bón bổ sung, thời gian và các biện pháp áp dụng. Trên thế giới 1. Nghiên cứu quản vật chất h u sau khai thác Vật chất hữu cơ sau khai thác (VLHCSKT) là toàn bộ cành nhánh, ngọn, lá, vỏ cây, hoa, quả, cây bụi, thảm tƣơi dƣới tán rừng, vật rơi rụng,… đƣợc để lại sau khi phần gỗ thƣơng phẩm đƣợc lấy đi.
Tuy nhiên, rừng trồng cây mọc nhanh ở nhiều nơi chủ yếu đƣợc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đơn giản nhƣ trồng thuần loài, khai thác trắng và đốt các VLHCSKT để chuẩn bị hiện trƣờng trồng lại rừng. Do đó, một lƣợng lớn các chất dinh dƣỡng bị mất do đốt, xói mòn và rửa trôi chất dinh dƣỡng; các kết cấu và các chức năng khác của đất suy giảm do không có thảm mục che phủ đất (Macedo et al. Paul et al. (2002) [37] đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của 43 đề tài trồng rừng cho thấy, hàm lƣợng mùn hầu hết giảm trong những năm đầu sau khi trồng rừng do ảnh hƣởng của các biện pháp chuẩn bị hiện trƣờng và đất không đƣợc che phủ những năm đầu dẫn đến xói mòn rửa trôi mạnh.
VLHCSKT bị đốt làm cho các chất dinh dƣỡng bị phân giải bay hơi ở nhiệt độ cao hoặc dễ dàng bị xói mòn và rửa trôi sau khi đƣợc giải phóng từ dạng hữu cơ sang vô cơ (DeBano et al. 2005 [24]; Hardiyanto & Wicaksono 2008 [27]; Huong et al. Các tính chất lý, hóa và sinh học khác của đất cũng bị ảnh hƣởng do sự mất đi của lƣợng mùn trong đất. Do đó, giữ lại VLHCSKT vừa giảm xói mòn rửa trôi và còn duy trì đƣợc một lƣợng lớn dinh dƣỡng và các l hóa tính của đất cho luân kỳ sau.
và Ranger (2008) [40] tổng kết các kết quả trong chƣơng trình nghiên cứu quản l lập địa của CIFOR đã kết luận, trong chu kỳ đầu trên 16 lập địa khác nhau có 9 lập địa cho thấy để lại VLHCSKT đã làm tăng đáng kể chất hữu cơ trong đất, 6 lập địa chƣa thấy sai khác, 1 lập địa cho thấy giảm chất hữu cơ trong đất. Chất hữu cơ có ảnh hƣởng lớn đến tăng sản lƣợng rừng thông qua ảnh hƣởng đến tính chất vật l đất nhƣ khả năng giữ nƣớc và chứa những dinh dƣỡng quan c 6 trọng. Sự phân hủy các VLHCSKT là nguồn dinh dƣỡng chủ yếu cho cây. Một số kết quả nghiên cứu cho các loài Keo trên thế giới có thể tổng hợp nhƣ sau: Keo có khả năng cố định đạm và sinh trƣởng nhanh, điều này đồng nghĩa là các vật chất hữu cơ trong đất rừng Keo cao hơn các loài Bạch đàn (Schiavo et al.
2009 [38]; Yang et al. 2009 [42]), thông (Bernhard-Reversat 1996) [22] hay rừng trồng một số loài cây bản địa (Wang et al.