Đặt vấn đề Xu thế dinh dƣỡng những năm đầu thế kỷ 21 cho thấy, tỷ trọng gia vị ngày càng gia tăng trong cơ cấu bữa ăn của nhiều nƣớc, nhất là những nƣớc có tuổi thọ cao nhƣ Nhật Bản và Hàn Quốc. Rau gia vị không chỉ có hàm lƣợng vitamin, các chất khoáng cao mà còn chứa nhiều dƣợc chất phòng và chữa nhiều bệnh cho ngƣời. Trong số các gia vị này, đứng đầu về tỷ trọng dƣợc lý trong thành phần ăn đƣợc là ớt cay (Capsicum annuum L. Đây cũng là một trong các loại rau gia vị có giá trị kinh tế cao đƣợc sử dụng tại Việt Nam và nhiều nƣớc trên thế giới.
Với hình thức sử dụng đa dạng nhƣ ăn tƣơi, phơi khô xay làm bột ớt, chế biến tƣơng ớt, các loại sốt đặc biệt của một số nƣớc, ngâm dấm, trái đóng hộp,… nên cây ớt có tiềm năng phát triển rất lớn. Ở Việt Nam, cây ớt đƣợc đƣa vào trồng trọt từ rất lâu đời, do thích hợp đƣợc nhiều vùng đất khác nhau nên khả năng mở rộng diện tích rất lớn, đặc biệt những năm gần đây, nhiều địa phƣơng đã triển khai thành công mô hình trồng ớt xuất khẩu nên đã mở ra hƣớng đi mới cho bà con nông dân trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng để sản xuất ra sản phẩm hàng hoá đem lại thu nhập cao. Năm 2013, Việt Nam xuất khẩu khoảng 3.563 tấn ớt khô, ớt bột với giá trị 4,665 triệu USD (Faostat, 2017). Tại Bình Định, ớt cay là cây rau gia vị quan trọng trong cơ cấu cây trồng ở một số địa phƣơng bởi ngoài việc đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh thì nó còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc một số địa phƣơng mở rộng nhanh diện tích trồng ớt để xuất khẩu đã bộc lộ nhiều hạn chế nhƣ: 2 Bộ giống quá nhiều (khoảng trên dƣới 20 giống) và các giống chƣa ổn định bởi giống mới xuất hiện thƣờng xuyên hàng năm mà chƣa đƣợc đánh giá tính thích nghi hoặc đánh giá chƣa kỹ, thị trƣờng hạt giống thất thƣờng; Bón thiếu phân hữu cơ, vôi bột và dƣ thừa phân vô cơ so với khuyến cáo, tỷ lệ phân bón chƣa cân đối so với nhu cầu sinh lý của cây ớt, sử dụng thuốc BVTV chƣa đúng và chƣa quan tâm đến biện pháp quản lý dịch hại theo IPM; Do phụ thuộc vào thị trƣờng xuất khẩu nên phần lớn ngƣời dân tập trung vào sản xuất vụ ớt Thu đông và Đông xuân (tháng 9 – tháng 4 năm sau). Trong khoảng thời gian này, điều kiện thời tiết ở tỉnh Bình Định có 2 tháng mƣa nhiều (tháng 10 và 11) nên ẩm độ đất và không khí cao, nhiệt độ và số giờ chiếu sáng thấp là những nguyên nhân làm cho sâu bệnh phát sinh và gây hại nặng, đặc biệt là bệnh thán thƣ vào giai đoạn thu hoạch đã làm ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất ớt tại địa phƣơng; Việc sản xuất không theo quy hoạch và không dự tính dự báo đƣợc thị trƣờng đã dẫn đến tình trạng giá ớt luôn có biến động lớn và chƣa có thị trƣờng ổn định; Những yếu tố hạn chế nêu trên là nguyên nhân chính ảnh hƣởng đến năng suất và hiệu quả sản xuất ớt cay của tỉnh Bình Định. Chính vì vậy, để cây ớt cay phát triển bền vững trong giai đoạn tới rất cần có sự đầu tƣ đồng bộ về cơ sở hạ tầng, nghiên cứu tuyển chọn các giống ớt có năng suất cao, phẩm chất tốt và nghiên cứu đề xuất đƣợc các biện pháp canh tác hợp lý. Xuất phát từ thực trạng nêu trên, việc triển khai đề tài "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất và chất lƣợng ớt cay (Capsicum Annuum L.) ở tỉnh Bình Định" là yêu cầu cấp thiết đối với sản xuất ớt cay ở địa phƣơng.
Mục tiêu của đề tài Đánh giá đƣợc hiện trạng sản xuất ớt cay ở tỉnh Bình Định, xác định đƣợc giống ớt cay mới phù hợp với thị trƣờng xuất khẩu và giải pháp kỹ thuật hợp lý nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả sản xuất loại gia vị này tại tỉnh Bình Định. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần vào việc xây dựng cơ sở khoa học trong việc khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng nhƣ biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp để nâng cao chất lƣợng và hiệu quả sản xuất ớt cay ở tỉnh Bình Định. - Bổ sung kiến thức về cây ớt ở khu vực miền Trung, là tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật và quản lý tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, sản xuất kinh doanh và hoạch định chính sách.
Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài đã xác định đƣợc những yếu tố hạn chế cơ bản về kinh tế - xã hội, sinh học và phi sinh học đối với sản xuất ớt cay ở tỉnh Bình Định. - Đã xác định đƣợc giống ớt cay Solar 135 có năng suất, chất lƣợng tốt, chống chịu với một số sâu bệnh hại chính cùng ngƣỡng phân bón phù hợp và gốc ghép tốt nhất. Kết quả này đáp ứng đƣợc nhu cầu cấp bách trong phát triển sản xuất ớt cay của tỉnh Bình Định. Những đóng góp mới của đề tài.
- Đánh giá đƣợc thực trạng sản xuất ớt cay tại Bình Định, từ đó đƣa ra một số định hƣớng nghiên cứu nhằm khắc phục hạn chế, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất ớt cho ngƣời dân. - Tuyển chọn và giới thiệu cho sản xuất đƣợc giống ớt Solar 135 có năng suất cao, phẩm chất tốt và phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh Bình 4 Định. Từ đó góp phần làm phong phú và đa dạng bộ giống ớt cay năng suất cao trong sản xuất. - Đề xuất đƣợc mức phân bón đạm, kali và canxi hợp lý cho giống ớt mới Solar 135 trên đất xám phù sa cổ ở Bình Định là: 150 kg N : 150 kg K2O : 500 kg CaO trên nền 20 tấn phân chuồng và 100 kg P2O5/ha.
- Áp dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật triển vọng xác định đƣợc trên đất xám phù sa cổ ở tỉnh Bình Định đã làm tăng năng suất 21,6% (từ 25,7 tấn/ha lên 32,8 tấn/ha), lãi thuần tăng từ 201,8 triệu đồng lên 278,7 triệu đồng và tỷ suất lãi so với vốn đầu tƣ tăng từ 1,60 lên 2,40 so với phƣơng thức canh tác truyền thống. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 5. Đối tượng nghiên cứu - Các dòng, giống ớt cay chỉ địa đƣợc thu thập từ các nguồn giống địa phƣơng, Công ty và Viện nghiên cứu ở trong và ngoài nƣớc. Địa điểm nghiên cứu - Điều tra tại 2 huyện có diện tích sản xuất ớt cay lớn của tỉnh Bình Định là Phù Cát và Phù Mỹ.
- Các thí nghiệm đƣợc triển khai: + Các thí nghiệm xác định giống đƣợc triển khai trong các vụ Đông xuân 2012 - 2013, 2013 - 2014 và 2014 - 2015 tại huyện Phù Mỹ. + Các thí nghiệm nghiên cứu phân bón đƣợc triển khai trong các vụ Đông xuân 2015 - 2016 và 2016 - 2017 tại huyện Phù Mỹ. + Nghiên cứu thăm dò biện pháp ghép ớt đƣợc thực hiện trong năm 2016 tại Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ, TP. Quy Nhơn và huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
5 - Đánh giá việc áp dụng thử nghiệm các kết quả nghiên cứu đƣợc triển khai trong vụ Đông xuân 2016 - 2017 tại xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Thời gian nghiên cứu Từ tháng 11/2012 đến tháng 6/2017. Phạm vi giới hạn của đề tài - Tại các vùng trồng ớt phổ biến ở huyện Phù Cát và Phù Mỹ của tỉnh Bình Định, cây ớt đƣợc gieo trồng chủ yếu trên đất xám phù sa cổ, một phần trên đất phù sa và đất cát. Do đó, đề tài tập trung nghiên cứu trên đất xám phù sa cổ, trên các loại đất còn lại chƣa đủ điều kiện để triển khai.
- Tại Bình Định, ớt chủ yếu gieo trồng trong vụ Đông xuân (chiếm khoảng trên 80%). Do vậy, đề tài tập trung nghiên cứu trong điều kiện vụ Đông xuân. - Do trong thực tế sản xuất đã có sự vận dụng hợp lý các biện pháp làm đất, tƣới nƣớc, che phủ luống, gieo ƣơm cây con, mật độ trồng, làm giàn chống đổ ngả và kế thừa các kết quả nghiên cứu về phân chuồng, phân vi sinh đã có, nên đề tài tập trung nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật về giống; liều lƣợng và tỷ lệ phân đạm, kali, canxi; và nghiên cứu thăm dò biện pháp ghép ớt. 6 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.
Nguồn gốc, phân bố và phân loại cây ớt cay 1. Nguồn gốc và phân bố Theo các nhà nghiên cứu phân loại thực vật thì ớt có nguồn gốc từ Mêhicô, và nguồn gốc thứ hai là Guatemala. Ớt đƣợc trồng phổ biến ở các nƣớc nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Mỹ, sau đó đƣợc lan truyền sang nhiều nƣớc trên thế giới qua thuộc địa – Đƣợc Columbus (Kha Luân Bố) chuyển sang Tây Ban Nha, ngƣời Bồ Đào Nha lai mang ớt sang Ấn Độ từ Braxin. Còn ngƣời Pháp đã có công mang cây ớt sang Việt Nam.
Phân loại Ớt thuộc họ cà, loài ớt (Capsicum), chỉ có 4 loại đƣợc trồng trọt. Có loại trồng trọt của C.pubescens chỉ hạn chế ở Nam và Trung Mỹ, còn hai loại C.frutescens đƣợc trồng khắp thế giới, trong đó, C.annuum là thông dụng nhất. Tất cả các loại ớt rất cay quả nhỏ thuộc C.frutescens (Choudhury, 1967), nó đƣợc phổ biến rộng rãi ở cả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới cả hai dạng hoang dại và trồng trọt, còn C.annuum không tìm thấy dạng hoang dại. Đặc điểm chính của hai dạng ớt C.annuum có quả đơn, cây 1 năm.frutescens quả nằm thành nhóm, cây 2 năm.
Theo Heiser và Smith (1953) và Heiser Jr (1976) đã mô tả 5 loại ớt nhƣ sau: 7 - C.annuum (ớt ngọt và ớt cay): Bao phấn xanh lam, tràng hoa trắng sữa, lá đài không rõ, cuống đơn độc. anum là cây trồng còn dạng hoang dại thuộc về var. baccatum: Phân biệt với C.annuum bởi sự có mặt của các vết vàng, nâu vàng hoặc nâu trên tràng và mấu lồi ở đài.frutescens: Bao phấn xanh lam, tràng hoa trắng vàng hoặc xanh sữa, có 2 hoặc nhiều cuống ở một mắt.chinensis: Đƣợc trồng ở vùng Amazon và châu Phi. Một số giống rất nhọn, nó đƣợc coi là con cháu của C.frutescens và chỉ khác với C.frutescens là có đài thấp và thắt lại.pubescens: Đây là loại andean và là con cháu của một trong 3 loài hoang dại châu Mỹ.