Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về cây có múi 1. Nguồn gốc và phân bố Trong các loại cây ăn quả, cùng với cây nho, cây cam quít có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất. Có nhiều kết quả nghiên cứu nói về nguồn gốc của cam quýt (Bùi Huy Đáp (1967) [9.]; Trần Thế Tục (1967) [45.]; Wakana và cs.]; Reuther và cs.]; …) phần lớn đều thống nhất cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Himalaya Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippin, Malaysia, miền Nam Indonecia hoặc kéo đến lục địa Úc.
Những báo cáo gần đây (Huang (1990) [80.]) nhận định, tỉnh Vân Nam Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng, tại đây còn tìm thấy rất nhiều loài cam quýt hoang dại. Các dạng cây có múi ăn được bao gồm chanh yên, cam chua, chanh giấy, chanh núm, cam ngọt, bưởi, bưởi chùm, quýt và quất. Loài chanh yên, phật thủ (Citrus medica L.) có nguồn gốc tại miền Nam Trung Quốc tới Ấn Độ, là loài cây ăn quả được mang đến trồng tại Địa Trung Hải và Bắc Phi rất sớm, trước thế kỷ 1 sau Công nguyên, những tài liệu cổ xưa có ghi chép loài cây ăn quả này ở Bắc Phi đến mức làm nhiều người hiểu lầm chúng có nguồn gốc tại đây. Các loài chanh vỏ mỏng (Lime, Citrus auranlifolia Swingle) được xác định có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc và miền Tây Ấn Độ, sau đó được các thuỷ thủ đi biển mang về trồng ở châu Phi, Địa Trung Hải và châu Âu, v.
Chanh núm (Citrus limon Burnman) không rõ nguồn gốc, có thể là dạng lai giữa chanh yên và chanh giấy. Chanh núm được mang tới Bắc Phi và Tây Ban Nha vào khoảng năm 1150 sau Công nguyên liên quan tới việc mở rộng bờ cói của hoàng đế Ả Rập. Cam ngọt (Citrus sinensis L. Osbeck) có nguồn gốc ở Nam Trung Quốc và cả Nam Indonesia.
Con đường phân bố của cam ngọt tương tự như của chanh yên và được nhập nội vào châu Ấu bởi người La Mã. Cam được chia thành 4 nhóm là: cam thường (cam Vân Du, Sông Con, Xã Đoài, Cam Hamlin, Valencia, Pineapple .); cam rốn (Washington Navel,.); cam có sắc tố đỏ hay còn gọi là cam máu – blood orange (cam Sanguinello, cam Moro, cam Taroco, Cara cara,.) và cam không chua (acidless). 6 Sự di chuyển của cây có múi từ Ấn Độ đến châu Phi xảy ra từ những năm 700 – 1400 và các loài cây có múi khác nhau, đặc biệt là chanh giấy và cam đã được nhập nội tới các nước châu Mỹ bởi những người định cư và các nhà thám hiểm ở cùng Địa Trung Hải. Cuộc hành trình của cây có múi tới các vùng châu Mỹ còn do các tín đồ thiên chúa giáo La Mã đã phát triển nhiều cây ăn quả trong đó có cây có múi (Davies và Albrigo, 1994) [69.
Hiện nay, cam Sành là một trong những cây ăn quả có múi được trồng phổ biến từ Bắc vào Nam nước ta. Sản phẩm cam Sành được gắn với tên địa danh trồng trọt như Cam Sành Bắc Quang (Hà Giang), cam Sành Hàm Yên (Tuyên Quang) ở miền Bắc, ngoài ra còn một số vùng trồng khác nhưng diện tích nhỏ hơn như Yên Bái, Bắc Kạn, Nghệ An, … quả được thu hoạch vào dịp Tết Nguyên Đán và vỏ quả có màu vàng cam. Tại miền Nam, tác giả Nguyễn Minh Châu (2009) [6.] cho rằng cam Sành được trồng nhiều ở Tam Bình, Trà Ôn (Vĩnh Long); Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo (Tiền Giang); Mỹ Khánh, Ô Môn (Cần Thơ), … quả thu hoạch từ tháng 8 đến tháng 12 hàng năm, vỏ quả màu xanh sẫm. Phân loại cây ăn quả có múi Cây có múi (Citrus) thuộc họ Rutaceae, họ phụ Aurantioideae, tông Citreae, tông phụ Citrineae, gồm 16 loài (Tanaka, 1954) [125.
Nguồn gốc phân loại và phân bố của cây có múi được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu như: Swingle và Reece 1967[123. và cả các nhà khoa học Việt Nam như Lê Khả Kế (1976) [22.] và Phạm Hoàng Hộ (1972) [15. Do sự đa dạng đến mức phức tạp của các loài trong chi Citrus, nên hiện nay sự phân chia số lượng các loài cũng như các giống (variety) trong các loài của chi citrus ở trong mỗi công trình phân loại của các tác giả trên không giống nhau. ví dụ: Swingle chia chi citrus thành 16 loài, gồm 2 chi phụ: Eucitrus 10 loài và Papeda 6 loài.
Tanaka lại chia thành 144 loài, cũng gồm 2 chi phụ: Archicitrus 98 loài và Metacitrus 46 loài, trong đó có Cam Sành (C. nobilis Lour) thuộc nhánh (section) 7, nhánh phụ 1 (subsection 1) Euacrumen. Trong khi đó Hodgson lại nhóm thành 4 nhóm: Nhóm 1, những loài chua, gồm 6 loài: C. Nhóm 2, nhóm cam, gồm 2 loài: C.
Nhóm 3, nhóm quýt, gồm 3 loài: C. nobilis 7 (quýt King/cam sành, lai giữa C. Nhóm 4, nhóm bưởi, gồm 2 loài: C. Có một số loài khác nữa như: C.
mitis (calamodin, một giống của Philippin) nhưng theo ông sự phân loại này cũng chưa có gì chắc chắn. Khóa phân loại theo Swingle chi Citrus gồm 2 chi phụ và 16 loài như sau: 1.medica var sarcodactylis Swingle (Fingered citron- phật thủ/tay Bụt) 1b. medica var Ethrog Engl. micrantha var microcapa Wester 14.
Fortunella japonica (Thunb. Fortunella hindsii (Champ. 8 Trong 10 loài thuộc Eucitrus ở Việt Nam hiện chỉ tìm thấy 7 loài từ 1 đến 7 và trong chi phụ Papeda chỉ có 1 loài là C. Cam Sành thuộc chi Cam chanh, có nguồn gốc từ Việt Nam.
Cam Sành được gắn nhiều tên khoa học khác nhau như Citrus nobilis; Citrus reticulata hay Citrus sinensis, trên thực tế cam Sành là giống lai tự nhiên: C. Trong phân loại khoa học, tác giả (Hume, 1957 [82.]) cho rằng, cam Sành thuộc bộ (ordo): Rutales; họ (familia): Rutaceae; chi (genus): Citrus; loài (species): C. Tình hình sản xuất cây có múi 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây có múi trên thế giới Sản xuất quả có múi trên thế giới chủ yếu tập trung vào 4 chủng loại chính là cam, quýt (bao gồm quýt và các dạng lai), bưởi (bao gồm bưởi chùm và bưởi thường), chanh (bao gồm chanh núm và chanh giấy).
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) diện tích cây có múi cho thu hoạch trên thế giới năm 2013 là 7.018 ha, sản lượng đạt 87,049 triệu tấn. Những năm gần đây sản lượng cây có múi trên thế giới biến động liên tục. Năm 2014 sản lượng là 91,081 triệu tấn nhưng năm 2015 giảm xuống chỉ đạt 88,473 triệu tấn (USDA, 2018) [142. Riêng sản lượng cam toàn cầu niên vụ 2013/2014 đạt 52,01 triệu tấn trong đó 21,514 triệu tấn cho chế biến và 3,995 triệu tấn cho xuất khẩu.
Nước sản xuất cam nhiều nhất trên thế giới là Braxin, sau đó là Mỹ, Trung Quốc và Mê-hi-co. Niên vụ 2014/2015 sản lượng cam giảm khoảng 7% do năng suất cam của Braxin giảm mạnh. Năm 2015/2016 sản lượng cam tiếp tục giảm khoảng 3 triệu tấn so với lượng 48,7 triệu tấn của năm trước. Mặc dù sản xuất cam ở Trung Quốc tăng lên (khoảng 10%), Liên minh châu Âu và Ai Cập cũng tăng về sản lượng nhưng không bù đắp được sự sụt giảm năng suất khá mạnh ở Braxin (giảm 2,4 triệu tấn), Mỹ (407 nghìn tấn) và Mexico.
Sản lượng sụt giảm chủ yếu là nguồn cam chế biến trong khi nhu cầu sử dụng nước ép cam đang ngày càng tăng lên (USDA, 2018) [142. Do vậy nhu cầu về nguồn giống cam ít hạt hoặc không hạt dùng làm nguyên liệu cho chế biến nước ép và ăn tươi đều rất lớn. 9 Sản lượng cam toàn cầu vụ 2016/2017 đã tăng lên 2,4 triệu tấn so với năm trước. Đặc biệt lượng cam dùng cho chế biến tăng thêm 2,8 triệu tấn và chủ yếu tăng ở Braxin.
Việc mở rộng sản xuất của nước này chủ yếu sử dụng cho chế biến tại chỗ mà ít tăng lượng xuất khẩu (USDA, 2018). Đối với quýt thì sản lượng quả niên vụ 2015/2016 đạt khoảng 29 triệu tấn, tăng khoảng 400 nghìn tấn so với năm trước. Trung Quốc là nước sản xuất nhiều quýt nhất trên thế giới, tiếp theo là Ma Rốc và Nhật Bản. Bên cạnh đó Trung Quốc cũng là quốc gia có sản lượng bưởi lớn nhất thế giới.
Niên vụ 2015/2016 toàn thế giới sản xuất được 6,3 triệu tấn bưởi tăng thêm 220 nghìn tấn so với năm trước trong đó Trung Quốc chiếm tới gần 4 triệu tấn, tiếp theo là Mỹ (USDA, 2018) [142. Tình hình sản xuất cam, quýt ở Việt Nam Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng cây cam, quýt ở Việt Nam Năm Chỉ tiêu 2012 2013 2014 2015 Sơ bộ 2016 Diện tích trồng 67,5 70,3 78,5 85,4 97,5 (nghìn ha) Diện tích thu hoạch 55,8 55,6 55,6 58,4 64,7 (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn) 704,1 706,0 758,9 727,4 799,5 Nguồn: Tổng cục Thống kê 2017 [141.] Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2016, diện tích cây ăn quả nước ta năm 2015 khoảng 819 nghìn ha, trong đó diện tích trồng cây cam quýt 85,4 ha chiếm hơn 10%. Diện tích trồng cam quýt hàng năm vẫn không ngừng tăng lên và tăng mạnh trong năm 2016, tuy nhiên diện tích cho thu hoạch có hiện tượng giảm đôi chút từ năm 2012 đến năm 2014 và phục hồi vào năm 2015 và 2016. Sự trái ngược của xu hướng biến động diện tích trồng và diện tích cho thu hoạch cây cam, quýt chứng tỏ những năm gần đây người dân chú trọng thay đổi giống và trồng mới nhiều diện tích, đồng thời phá bỏ những vườn đã già cỗi, suy thoái.
Ngoài việc thay đổi cơ cấu giống và trồng mới thì người dân cũng đầu tư các biện pháp thâm canh tăng năng suất cây cam quýt. Điều đó thể hiện rõ khi diện tích cho thu hoạch không tăng nhưng sản lượng quả cam, quýt trên cả nước vẫn duy trì ổn định trong năm 2012, 2013 và tăng rõ rệt trong 3 năm 2014, 2015 và 2016. 10 Cũng theo con số thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2015, nước ta có 2 vùng cam quýt chính là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (diện tích trồng năm 2014 là 39,2 nghìn ha) và Trung du miền núi phía Bắc (15,7 nghìn ha). Đây là 2 khu vực có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp cho việc phát triển cây cam, quýt nhưng vẫn chưa phát huy được hết thế mạnh của mình.
Đặc biệt, vùng Trung du miền núi phía Bắc với diện tích trồng chiếm 18,3% nhưng sản lượng chỉ chiếm 10,2% so với cả nước. Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm 45,7% diện tích nhưng sản lượng quả chiếm tới 66,9%.