Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực tài chính của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng năng lực tài chính công ty cổ phần Bibica. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực tài chính công ty cổ phần Bibica. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP.1 Khái niệm năng lực tài chính của doanh nghiệp “ Năng lực” theo Từ điển tiếng Việt là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay “Năng lực” là những điều kiện đƣợc tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó. “Tài chính” là một phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dƣới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định. Tài chính đƣợc đặc trƣng bằng sự vận động độc lập tƣơng đối của tiền tệ chủ yếu với chức năng phƣơng thanh toán và phƣơng tiện cất trữ trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ đại diện cho sức mua nhất định ở các chủ thể kinh tế xã hội.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp là khả năng đảm bảo về vốn kinh doanh cho doanh nghiệp. Môt doanh nghiệp có quy mô vốn lớn là doanh nghiệp có khả năng đảm bảo vốn cho doanh nghiệp tiến hành các hoạt động đầu tƣ, hoạt động sản xuất kinh doanh hƣớng tới việc đạt đƣợc mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, hƣớng tới tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp Theo tác giả Phạm Thị Vân Anh (2012) trong đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ”, nội hàm khái niệm này trƣớc hết đƣợc hiểu là khả năng huy động vốn để đáp ứng cho các hoạt động của doanh nghiệp, bên cạnh đó nội dung thứ hai trong hàm ý khái niệm về năng lực tài chính của doanh nghiệp là khả năng đảm bảo an toàn tài chính doanh nghiệp. Cũng theo đề tài trên, tác giả Phạm Thị Vân Anh xem xét năng lực tài chính doanh nghiệp trên hai góc độ: Năng lực tài chính tổng thể và Năng lực tài chính cho sự tăng trƣởng nói riêng. Cụ thể nhƣ sau: + Năng lực tài chính tổng thể: Là xem xét toàn bộ năng lực tài chính để thực hiện mục tiêu chung bao trùm là tối đa hóa lợi ích hay tối đa hóa tài sản của chủ sở 7 hữu của doanh nghiệp.
Xem xét trên góc độ này, năng lực tài chính của doanh nghiệp bao hàm hai bộ phận cấu thành: năng lực tài chính chủ sở hữu doanh nghiệp và năng lực tài chính từ nợ vay. + Năng lực tài chính cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận cấu thành: năng lực tài chính nội sinh và năng lực tài chính ngoại sinh. Năng lực tài chính nội sinh cho tăng trƣởng của doanh nghiệp là phần lợi nhuận để lại tái đầu tƣ. Đây chính là bộ phận năng lực tài chính chủ sở hữu nội sinh.
Năng lực tài chính ngoại sinh cho tăng trƣởng là nguồn lực tài chính mà doanh nghiệp có khả năng huy động từ bên ngoài doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trƣởng. Vậy, năng lực tài chính của một doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của bản thân doanh nghiệp, là khả năng tạo tiền, tổ chức lƣu chuyển tiền hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán thể hiện ở quy mô vốn, chất lƣợng tài sản và khả năng sinh lời…nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trƣớc những biến động của nền kinh tế.2 Các tiêu chí và chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính của doanh nghiệp. Năng lực tài chính không chỉ là nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà còn là khả năng khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực đó phục vụ một cách có hiệu quả cho hoạt động kinh doanh. Việc đánh giá năng lực tài chính đƣợc dựa trên các yếu tố định lƣợng và định tính nhƣ sau: + Các yếu tố định lƣợng thể hiện nguồn lực tài chính hiện có, bao gồm: quy mô vốn, chất lƣợng tài sản, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời… + Các yếu tố định tính thể hiện khả năng khai thác, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính đƣợc thể hiện qua: trình độ tổ chức, trình độ quản lý, trình độ công nghệ, chất lƣợng nguồn nhân lực… Như vậy, năng lực tài chính của một doanh nghiệp đƣợc thể hiện rõ nhất ở các chỉ tiêu chính nhƣ quy mô vốn, cơ cấu vốn, khả năng thanh toán, khả năng hoạt động của tài sản và khả năng sinh lời.
Khả năng huy động vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh Quy mô, cơ cấu vốn. Quy mô vốn hoạt động kinh doanh Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Để một doanh nghiệp có thể hình thành và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thì vốn là điều kiện không thể thiếu đƣợc. Một trong những tiêu chí đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp là quy mô và cơ cấu vốn.
Khi nguồn vốn của doanh nghiệp đƣợc huy động, phân phối và sử dụng một cách hiệu quả thì tình hình tài chính của doanh nghiệp có căn cứ để đánh giá tốt. Nguồn vốn là toàn bộ số vốn của doanh nghiệp đƣợc hình thành từ các nguồn khác nhau. Dựa trên tiêu chí về nguồn gốc của nguồn vốn, thì nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. + Vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần.
Có ba nguồn tạo nên vốn chủ sở hữu: số tiền góp vốn của các nhà đầu tƣ, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chƣa phân phối) và chênh lệch đánh giá lại tài sản. Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn kinh doanh (vốn góp và lợi nhuận chƣa chia), chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ của doanh nghiệp nhƣ: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thƣởng phúc lợi. Ngoài ra vốn chủ sở hữu còn gồm vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản và kinh phí sự nghiệp (kinh phí do ngân sách Nhà nƣớc cấp phát không hoàn lại.) + Nợ phải trả gồm chủ yếu là vốn vay và một phần là vốn chiếm dụng của bên thứ ba. Vốn vay có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nó có thể đáp ứng các nhu cầu về vốn trong ngắn hạn hoặc dài hạn, có thể huy động đƣợc số vốn lớn, tức thời. Tuy nhiên, sử dụng vốn vay phải hết sức chú ý đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp, kế hoạch sử dụng vốn phải đảm bảo hợp lý, đúng mục đích, quản lý tốt quỹ tiền mặt, kỳ trả nợ và kỳ thu tiền, kế hoạch sản xuất kinh doanh phải đƣợc lập bám sát thực tế. nếu không vốn vay sẽ trở thành một gánh nặng đối với doanh nghiệp. Bên cạnh vốn vay, doanh nghiệp còn có nguồn vốn không thƣờng xuyên là vốn chiếm dụng của bên thứ ba nhƣ vốn chiếm dụng của nhà cung cấp (tín dụng thƣơng mại), lƣơng cán bộ công nhân viên chậm thanh toán… 9 Để đánh giá đúng năng lực tài chính của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu nguồn vốn thì vốn chủ sở hữu phải đƣợc xem xét nhiều nhất.
Doanh nghiệp có VCSH lớn thì tạo đƣợc lòng tin đối với đối tác, khả năng chi trả, thanh toán đƣợc đảm bảo. VCSH càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng đối phó tốt với những nguy cơ luôn tiềm tàng trong điều kiện kinh doanh ngày càng khó khăn nhƣ hiện nay. Quy mô, cơ cấu vốn hợp lý sẽ quyết định đến khả năng phát triển của doanh nghiệp. Trong điều kiên hiện nay, có nhiều kênh để doanh nghiệp có thể huy động đƣợc lƣợng vốn cần thiết, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình.
Tuy nhiên, điều quan trọng là doanh nghiệp cần phối hợp huy động và sử dụng các nguồn vốn để tạo ra một cơ cấu vốn hợp lý nhằm đƣa lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp. Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá khả năng tài chính vững vàng, mức độ tài trợ của VCSH cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp là tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn: Tỷ suất này lớn hơn 1 thể hiện khả năng tài chính vững vàng. Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp đáp ứng đƣợc nhu cầu cho mua sắm TSDH phục vụ SXKD của doanh nghiệp, góp phần đảm bảo an toàn trong kinh doanh. Ngƣợc lại, nếu nhỏ hơn 1 có nghĩa là một phần tài sản dài hạn đƣợc tài trợ bằng nguồn vốn vay.
Nếu vốn vay đó là vốn ngắn hạn thì doanh nghiệp đang kinh doanh trong cơ cấu vốn mạo hiểm. Cơ cấu vốn Quyết định về cơ cấu vốn là vấn đề tài chính hết sức quan trọng vì: + Cơ cấu vốn là một trong các yếu tố quyết định đến chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp. + Cơ cấu vốn ảnh hƣởng đến tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên một cổ phần và rủi ro tài chính của một doanh nghiệp hay công ty cổ phần. Cũng chính vì vậy mà cơ cấu vốn là một trong những tiêu chí phản ánh năng lực tài chính của doanh nghiệp.
Khi nguồn vốn của doanh nghiệp đƣợc huy động, phân phối và sử dụng hiệu quả thì tình hình tài chính của DN có căn cứ để đánh giá là tốt. 10 Khi xem xét cơ cấu vốn, ngƣời ta thƣờng chú trọng đến mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, một cơ cấu vốn hợp lý phản ánh sự kết hợp hài hòa giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong điều kiện nhất định. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp đƣợc thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau: Hệ số nợ hoặc hệ số vốn chủ sở hữu Hệ số nợ đƣợc đo bằng tỷ số giữa tổng số nợ và tổng nguồn vốn: Hệ số nợ thể hiện việc sử dụng nợ của doanh nghiệp trong việc tổ chức nguồn vốn và điều đó cũng cho thấy mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Tổng số nợ ở đây bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả.
Chủ nợ thƣờng thích công ty có hệ số nợ thấp vì nhƣ vậy công ty có khả năng trả nợ cao hơn.