CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE QUAN LÝ PHAI THU CUA DOANH NGHIỆP 1. Téng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu trong nước Trong nghiên cứu của Lê Thu Hà (2013), đối với các khoản phải thu quá hạn từ 6 tháng trở lên thì DN phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi; bán các khoản phải thu đã quá hạn thanh toán nhưng chỉ được bán nợ cho các tổ chức kinh tế có chức năng kinh doanh mua bán nợ chứ không được bán nợ trực tiếp cho khách nợ. Trường hợp bán nợ mà dẫn tới doanh nghiệp bị lỗ, mất vốn, hoặc mất khả năng thanh toán, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phải giải thể, phá sản thì những người có liên quan trực tiếp đến việc phát sinh khoản nợ khó đòi phải bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật và Điều lệ của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp có trách nhiệm tiếp tục bù đắp tổn thất (nếu có) bằng hoạt động sản xuất kinh doanh, không dé thất thoát vốn của Nhà nước đã đầu tư; nếu không thực hiện, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty và Ban lãnh đạo doanh nghiệp liên đới chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu và trước pháp luật. Nghiên cứu của Th.s Lê Hà Diễm Chi (2012) chỉ ra các cách thức dé quản tri tốt khoản phải thu từ khâu xây dựng chính sách tín dụng thương mại hiệu quả, xây dựng bộ sưu tập về tín dụng của khách hàng, tăng cường công tác thu hồi nợ gồm các biện pháp gì và cuối cùng là đánh giá hiệu quả quản lý khoản phải thu qua các chỉ tiêu. Theo đó một chính sách TDTM được xây dựng cân thận dựa trên việc so sánh lợi ích tăng thêm từ doanh thu tăng, giá bán cao với các chi phí liên quan đến thực hiện chính sách tín dụng tăng tương ứng, sẽ làm tăng lợi nhuận của DN. Đồng thời, một bộ sưu tập tín dụng khách hàng được xây dựng nghiêm túc, sẽ khiến chính sách tín dụng tạo ra một khoản phải thu có tính thu hồi cao, giảm thiểu sự xuất hiện của nợ khó đòi.
Công tác thu tiền hợp lý, giúp các khoản phải thu nhanh chóng được thu hồi, tăng cơ hội xoay nhanh đồng vốn. Cuối cùng, DN có thể xem xét lại toàn bộ công tác quản trị khoản phải thu của mình thông qua các chỉ tiêu tổng hợp. Các chỉ tiêu đánh giá khoản phải thu giúp DN nhận thấy rõ những van đề nao cần phải chan chỉnh, cải thiện cho kỳ sau và những hiệu quả tốt cần duy trì, phát triển.Nguyễn Trọng Hòa (2011) sử dụng biến số là các chỉ tiêu tài chính của 268 doanh nghiệp đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thời điểm năm 2010 dé xây dựng mô hình xếp hạng tin dụng doanh nghiệp bằng phương pháp tiếp cận mô hình phân biệt và mô hình Logit. Nghiên cứu nước ngoài Sử dụng thông tin từ 655 Doanh nghiệp được khảo sát bằng thư điện tử ở nước Anh, Wilson và Summer (2002) nghiên cứu về nhu cau tín dụng thương mại của các Doanh nghiệp cùng sản xuất một loại sản phẩm chính.
Tác giả cho biết sử dụng tin dụng thương mại là phố biến và thường được chấp nhận là một lựa chọn tài trợ ngắn hạn quan trọng. Với giả định lượng cầu tín dụng thương mại được thể hiện bang tỷ lệ khoản phải tra (mua chịu)/ tong giá trị tai sản của DN và là hàm số của chi phí giao dich và phương thức tài trợ. Kết qua phân tích hồi quy Tobit cho biết nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng thương mại của DN. Summer và Wilson kết luận rằng nhu cầu tin dụng thương mại chịu tác động bởi: chi phí giao dịch, quy mô sản xuất, chi phi dau tư, phương thức tài trợ và hoạt động của DN cũng như hoạt động marketing của nhà cung cấp.
Alphonso và cộng sự (2004) sử dụng dữ liệu từ khảo sát toàn quốc về tài chính của các DN nhỏ ở Hoa Kỳ năm 1998. Mức độ sử dụng tín dụng thương mại được đo lường bằng tỷ số khoản phải trả (mua chiu/tong giá trị tài sản). Kết quả hồi quy 2SLS cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng tín dụng thương mại của các DN nhỏ. Tỷ lệ vay ngân hàng và hạn mức tín dụng/ tổng tài sản cũng như giá trị số sách của tài sản và thời gian hoạt động của DN bình phương có tác động nghịch.
Trong khi thu nhập tỷ số khả năng thanh toán hiện thời và tỷ lệ vốn đầu tư của chủ sở hữu có tác động thuận. Nghiên cứu của Schwart (1974) và Ferris (1981), chỉ ra tín dụng thương mại có thể làm giảm chỉ phí giao dịch vì khách hàng không phải thanh toán bằng tiền mặt cho mỗi lần cung cấp mà họ có thể dồn tích nghĩa vụ thanh toán để hoàn trả sau đó theo định kỳ, do đó giảm được chỉ phí giao dịch. Hơn nữa nếu nhu cầu các yếu tố đầu vào của 1 DN có tính thời vụ cao, DN buộc phải dự trữ nhiều hàng tồn kho dé đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục, làm tăng chi phi dự trữ va chi phí san xuất trong khi thu nhập bi chậm trễ. Băng cung ứng tín dụng thương mai, người cung cấp có thé kích thích khách hang mua sớm hon hoặc thường xuyên hơn bởi vì họ có thể quản lý tình trạng hàng tồn kho tốt hơn, không những giảm sức ép vê nhu câu tài trợ von mà còn giảm được chi phi giao dịch.
Nghiên cứu của Rosemary Peavler (2016), phân tách khách hàng của DN thành 2 nhóm là nhóm khách hàng nhỏ và nhóm khách hàng lớn. Từ đó có những chính sách tín dụng riêng biệt. Nghiên cứu nêu lên 3 phần quan trọng của một chính sách tín dụng tốt đó là điều khoản bán hàng, làm thế nào để cấp tín dụng cho khách hàng, chính sách thu hồi nợ. Nghiên cứu của Brian Hamilton (2014) về: “ Tại sao quản lý khoản phải thu lại có thể cứu việc kinh đoanh của bạn?”.
Nghiên cứu đưa ra các cách dé quan ly khoản phải thu và dòng tiền của DN. Theo đó tác giả muốn nói về việc DN đang biến mình thành ngân hàng khi cấp tín dụng cho khách hàng. Và chỉ nên làm điều đó khi mà DN muốn tăng doanh số bán hàng thôi. Khi làm điều đó thì phải luôn để ý đến dòng tiền của DN, nếu bị âm thì đó là dấu hiệu cảnh báo chính sách tín dụng không hiệu quả.
Ông cũng khuyên DN nên giữ cho ngày phải trả nhà cung cấp ngắn hơn ngày phải thu từ khách hàng. Và việc thay thế nhân viên kế toán bằng CFO trong việc theo dõi và đưa ra các chính sách cho DN. Tóm lại, hầu hết các công trình nghiên cứu đều chỉ ra một quy trình quản lý phải thu từ khâu đánh giá khách hàng đến việc chính sách tín dụng như thế nào là hợp lý và thu hồi ra sao. Đây có thé nói là quy trình chung mà các DN hiện nay áp dụng.
Ta có thể thấy các mô hình nghiên cứu đánh giá khách hàng chỉ lấy mẫu trong lĩnh vực ngân hàng hoặc các doanh nghiệp có niêm yết trên thị trường chứng khoán nên rất khó áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Bên cạnh đó xét về mặt thực tiễn việc áp dụng lý thuyết về mô hình đánh giá khách hang dé quản lý các khoản phải thu của Doanh nghiệp Việt Nam còn chưa rộng rãi, hầu hết các doanh nghiệp chỉ áp dụng các phương pháp và mô hình định tính mà chưa mang nhiều yếu tố định lượng. Do vậy luận văn này được hình thành dé tìm ra mô hình đánh giá khách hàng phù hợp cho doanh nghiệp xây dựng- điều mà các công trình trước đó chưa làm được.Những vấn đề lý luận chung về phải thu của doanh nghiệp 1. Khái niệm Phải thu là biểu hiện mối quan hệ giữa chủ nợ, khách nợ thông qua một hoặc nhiều đối tượng nợ.
Chủ nợ và khách nợ có thé là những tổ chức kinh tế hay những cá nhân có mối quan hệ làm ăn mua bán, trao đổi với nhau. bao gồm phải thu và phải trả trong đó phải thu được theo dõi bên Tài sản của bảng CĐKT trong khi phải trả được theo déi bên Nguồn vốn. Có nhiều định nghĩa khác nhau về nợ phải thu: “Phái thu là một phần tài sản của DN, do DN kiểm soát và sẽ thu được lợi ích kinh tẾ trong tương lai” theo Giáo trình kế toán- Đại học Kinh tế TP HCM. Theo tờ thời báo kinh tế Mỹ: “ Khoản phải thu là khoản khách hàng phải trả cho một doanh nghiệp cho những sản phẩm hay dịch vụ đã được chuyển đến hay đã được sử dụng mà chưa được trả tiền.
Các khoản phải thu thường dưới dang tin dụng và thường trong thời gian ngắn, từ vài ngày cho đến 1 nam” Dựa vào các định nghĩa trên ta có thể hiểu: “Phải thu là một loại tài sản của công ty tính dựa trên tắt cả các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toản hoặc bắt cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho công Phải thu được kế toán công ty ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán bao gồm tất cả các khoản nợ của công ty chưa đòi được tính cả các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán bao gồm nhiều khoản: phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, thuế GTGT được khấu trừ, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác. Các khoản phải thu được ghi nhận như tài sản của công ty vì chúng phản ánh các khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai. Theo thống kê trên trang cafef.com, trong giai đoạn từ năm 2014-2016 thông thường tỷ trọng khoản phải thu chiếm 15% đến 20% tổng tài sản của doanh nghiệp nghành xây dựng. Phân loại Khoản phải thu có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, cụ thé như sau: 1.
Theo thời gian Theo khoản 1.4, Điều 112, TT 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 hướng dẫn ché độ kế toán doanh nghiệp: - Phải thu ngắn hạn : là khoản phải thu có kỳ hạn thu hồi còn lại không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo. - Phải thu dài hạn: là khoản phải thu có kỳ hạn thu hồi trên 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo. Theo tính chất - Phải thu thương mại: xuất phát từ việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ của công ty cho khách hàng trong kỳ kinh doanh bình thường. Phải thu thương mại có thể là 8 tài khoản phải thu hoặc phải thu tiền mặt.