Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh phát triển của xã hội tri thức, giáo dục giữ vai trò nòng cốt trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quan điểm này được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu. Bên cạnh đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VII) đã định hướng rõ yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục: phải khuyến khích tự học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng nhấn mạnh ưu tiên nâng cao chất lượng dạy và học, đổi mới phương pháp theo hướng phát huy khả năng sáng tạo và tính độc lập suy nghĩ của học sinh.
Môn Hóa học ở trường phổ thông mang đặc thù là môn khoa học vừa có tính lý thuyết vừa có tính thực nghiệm. Để nắm vững và vận dụng kiến thức linh hoạt, học sinh không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu lý thuyết mà phải trải qua quá trình rèn luyện thông qua hoạt động thực nghiệm và giải bài tập. Bài tập hóa học đóng vai trò là phương tiện dạy học quan trọng, giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện kỹ năng nhận thức và hình thành tính độc lập sáng tạo. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả Phạm Ngọc Thảo Vi thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học với đề tài: "Xây dựng hệ thống bài tập chương Ancol - Phenol lớp 11 nâng cao nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho HS trường trung học phổ thông".
Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ thuộc chương Ancol - Phenol và nghiên cứu phương thức sử dụng hệ thống bài tập này theo hướng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định bao gồm 4 nội dung cụ thể:
- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu về bài tập hóa học và năng lực sáng tạo.
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng bài tập hóa học để phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh tại một số trường THPT.
- Nghiên cứu nguyên tắc, quy trình và tiến hành xây dựng hệ thống bài tập hóa học chương Ancol - Phenol hỗ trợ học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức và phát triển năng lực sáng tạo.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của hệ thống bài tập cùng các biện pháp sử dụng đã đề xuất.
Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học Hóa học ở trường THPT. Đối tượng nghiên cứu tập trung vào việc xây dựng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ lớp 11 nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Về nội dung: Chương 8 (Ancol - Phenol), chương trình Hóa học lớp 11 nâng cao.
- Về địa bàn: Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, THPT Nguyễn Thị Minh Khai, THPT Trần Khai Nguyên).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, khóa luận hệ thống hóa các định nghĩa và quan niệm học thuật liên quan đến bài tập hóa học và năng lực sáng tạo:
- Bài tập hóa học: Theo nghĩa chung, thuật ngữ bài tập (tiếng Anh: Exercise, tiếng Pháp: Exercice) chỉ chuỗi hoạt động rèn luyện thể chất hoặc trí tuệ. Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), bài tập là bài giao cho học sinh làm để vận dụng điều đã học. Theo Thái Duy Tuyên, bài tập là một hệ thông tin xác định gồm các điều kiện và yêu cầu đặt ra trong dạy học đòi hỏi người học tìm lời giải đáp chưa có sẵn tại thời điểm giao nhiệm vụ. Về mặt lý luận dạy học bộ môn, bài tập bao gồm cả câu hỏi (yêu cầu hoạt động tái hiện) và bài toán (yêu cầu hoạt động sáng tạo, định tính hoặc định lượng).
- Năng lực và cấu trúc năng lực hành động: Khái niệm năng lực (tiếng La-tinh: competentia, tiếng Pháp: Capacité, tiếng Anh: Capacity) phản ánh tổ hợp các thuộc tính tâm lý phức hợp, kỹ năng và phẩm chất giúp cá nhân giải quyết thành công các tình huống cụ thể. Khóa luận tiếp cận mô hình cấu trúc năng lực hành động bao gồm 4 thành phần: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể.
- Năng lực sáng tạo: Là cấp độ nhận thức cao nhất trong thang bậc học tập (biết - hiểu - vận dụng - sáng tạo). Năng lực sáng tạo của học sinh biểu hiện qua khả năng chuyển tải tri thức sang hoàn cảnh mới, phát hiện bản chất vấn đề, đề xuất nhiều phương án giải quyết bài toán, và tìm lời giải độc đáo. Khóa luận đi sâu vào 4 năng lực sáng tạo thành phần chủ yếu: năng lực tư duy - sáng tạo, năng lực quan sát và sáng tạo, năng lực tưởng tượng - liên tưởng, và năng lực phát hiện vấn đề.
- Xu hướng xây dựng bài tập hóa học hiện đại: Tác giả tiếp thu các định hướng của Nguyễn Xuân Trường, bao gồm việc loại bỏ bài tập có nội dung hóa học nghèo nàn nhưng thuật toán quá phức tạp, loại bỏ các giả định rắc rối phi thực tiễn; đồng thời tăng cường bài tập thực nghiệm, trắc nghiệm khách quan, bài tập có nội dung gắn với đời sống, bảo vệ môi trường và bài tập rèn năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề.
Khóa luận kết hợp đồng bộ các nhóm phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập, đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các tài liệu lý luận dạy học, chương trình, sách giáo khoa và các luận văn thạc sĩ chuyên ngành liên quan (công trình của Nguyễn Thị Hồng Gấm, Vương Cẩm Hường, Ngô Thị Bích Thảo, Dương Thị Kim Tiên, Nguyễn Chí Linh, Nguyễn Thị Ngọc An, Văn Thị Ngọc Linh, Lại Tế Trân, Vũ Thị Phương Thủy).
- Phương pháp điều tra thực trạng: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến kết hợp đàm thoại trực tiếp với mẫu nghiên cứu gồm 52 giáo viên dạy Hóa học và 360 học sinh tại các trường THPT tại TP.HCM.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Bố trí giảng dạy song song giữa các cặp lớp thực nghiệm (TN) và đối chứng (ĐC) gồm 5 cặp lớp (TN1 - ĐC1, TN2 - ĐC2, TN3 - ĐC3, TN4 - ĐC4, TN5 - ĐC5) tại trường THPT Nguyễn Thượng Hiền.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý định lượng điểm số các bài kiểm tra thực nghiệm thông qua bảng phân phối tần số, phân phối tần suất, phân phối tần suất lũy tích, vẽ đồ thị đường lũy tích và so sánh các tham số đặc trưng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 1 trình bày tổng quan các nghiên cứu trong nước về việc sử dụng bài tập phát triển tư duy và năng lực sáng tạo trong dạy học Hóa học. Tác giả phân tích khái niệm, vai trò, vị trí và hệ thống tiêu chí phân loại bài tập hóa học (theo nội dung toán học, nội dung hóa học, tính chất hoạt động, chức năng nhận thức, dạng bài, hình thức kiểm tra, phương pháp giải và mục đích sử dụng). Đồng thời, chương này làm rõ cơ sở tâm lý học của năng lực sáng tạo, cấu trúc năng lực hành động, quy luật hình thành tư duy sáng tạo và các tiêu chí kiểm tra, đánh giá năng lực sáng tạo ở học sinh phổ thông.
Phần thực tiễn của Chương 1 công bố số liệu điều tra thu được từ 52 giáo viên và 360 học sinh các trường THPT trên địa bàn TP.HCM:
| Chỉ số khảo sát |
Đối tượng |
Dữ liệu định lượng trích xuất |
| Nhận thức về vai trò của bài tập đến phát triển năng lực sáng tạo |
Giáo viên |
80,77% đánh giá "Rất tốt"; 19,23% đánh giá "Bình thường"; 0,00% đánh giá "Không phát triển" |
| Đánh giá mức độ phát triển năng lực sáng tạo qua giờ giải bài tập |
Giáo viên |
51,92% đánh giá mức độ "Rất tốt"; 32,69% đánh giá "Bình thường" |
| Thời lượng giải bài tập hóa học trong tuần |
Giáo viên |
Đa số dành từ 1 - 2 tiết/tuần (tùy thời điểm trong năm học) |
| Mức độ chú trọng các hướng phát triển năng lực qua bài tập |
Giáo viên |
Suy luận logic: 90%; Rèn phương pháp giải nhanh: 80%; Rèn tính linh hoạt giải toán/tổng hợp: 80%; Phát hiện và giải quyết vấn đề: 70%; Yêu cầu HS tự xây dựng bài tập: 40% cho rằng không cần thiết |
| Đánh giá tính cần thiết của bài tập hóa học |
Học sinh |
93,04% cho rằng bài tập hóa học là công cụ hỗ trợ rất cần thiết |
| Quỹ thời gian tự học và giải bài tập hóa học |
Học sinh |
3 tiếng/tuần: 43,88%; 2 tiếng/tuần: 23,05%; 4 tiếng/tuần: 21,67%; 1 tiếng/tuần: 11,38% |
| Nguồn tài liệu bài tập chủ yếu của học sinh |
Học sinh |
Sách giáo khoa: 53,05%; phần còn lại phân bổ ở sách bài tập, sách tham khảo và Internet |
| Hứng thú với bài tập phát triển năng lực sáng tạo |
Học sinh |
50% - 70% học sinh hứng thú và cho rằng giúp học tốt hơn; khoảng 30% học sinh e ngại do xem đây là bài tập khó |
Kết quả điều tra xác nhận tính cấp thiết của việc xây dựng hệ thống bài tập được chuẩn hóa, phong phú về dạng bài và gắn liền với thực tiễn nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt tài liệu chuyên biệt.
Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực sáng tạo trong dạy học chương Ancol - Phenol lớp 11 nâng cao
Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận. Trước hết, tác giả phân tích cấu trúc Chương 8 (Ancol - Phenol) trong chương trình Hóa học 11 nâng cao, bao gồm Bài 53 (Ancol: Cấu tạo, danh pháp), Bài 54 (Ancol: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng), các bài về Phenol và Bài 57 (Thực hành: Tính chất của Ancol - Phenol). Mục tiêu chuẩn kiến thức và kỹ năng được phân định rõ ràng giữa nhóm hợp chất ancol (đơn chức, đa chức như glixerol) và hợp chất phenol.
Để thiết kế hệ thống bài tập, tác giả đề xuất và tuân thủ 6 nguyên tắc:
- Đảm bảo góp phần thực hiện mục tiêu môn học: Gắn lý thuyết với thực tiễn đời sống, sản xuất và bảo vệ môi trường.
- Đảm bảo tính chính xác, khoa học: Đầy đủ dữ kiện, thuật ngữ chuẩn xác, lập luận logic chặt chẽ.
- Đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng: Đan xen giữa các kỹ năng nhận thức từ cơ bản đến phức tạp, bài trước làm nền tảng cho bài sau.
- Đảm bảo tính vừa sức: Sắp xếp bài tập từ dễ đến khó, từ áp dụng theo mẫu đến biến đổi linh hoạt, phù hợp phân hóa đối tượng.
- Đảm bảo củng cố kiến thức cho học sinh: Rèn luyện sâu 3 mức độ nhận thức (biết, hiểu, vận dụng).
- Đảm bảo phát huy tính tích cực nhận thức, năng lực sáng tạo của học sinh: Chú trọng bài tập đòi hỏi chuỗi liên kết suy luận và vận dụng tình huống mới.
Quy trình biên soạn gồm 5 bước bài bản:
- Bước 1: Xác định mục đích của hệ thống bài tập (phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 nâng cao).
- Bước 2: Xác định nội dung hệ thống bài tập (bao quát toàn diện kiến thức chương Ancol - Phenol).
- Bước 3: Xác định loại bài tập và các kiểu bài tập (chia thành nhóm định tính và định lượng, thể hiện qua tự luận và trắc nghiệm).
- Bước 4: Thu thập thông tin, tư liệu nghiên cứu từ sách báo, tạp chí và đời sống thực tế.
- Bước 5: Tiến hành soạn thảo, phân loại, sắp xếp mức độ nhận thức và lấy ý kiến tham khảo chuyên môn từ đồng nghiệp.
Nội dung hệ thống bài tập tự luận chương Ancol - Phenol được phân loại chi tiết:
- Bài tập định tính: Gồm 8 dạng chính:
- Dạng 1: Bài tập quan sát và giải thích hiện tượng thí nghiệm thực tế (ví dụ: phản ứng của etanol, propan-1-ol, glixerol với $\text{Cu(OH)}_2$; hiện tượng mẫu phenol tan trong dung dịch $\text{NaOH}$ và vẩn đục khi sục $\text{CO}_2$; cơ chế sát khuẩn của cồn; nguyên lý phát hiện nồng độ cồn của lái xe qua dụng cụ phân tích khí thở; phương pháp sơ cứu bỏng phenol bằng glixerol).
- Dạng 2: Viết phương trình phản ứng theo dãy biến hóa (chuỗi phản ứng từ tinh bột, canxi cacbua, etilen thành ancol và các dẫn xuất liên quan).
- Dạng 3: Điều chế các chất (phân tích tính hợp lý của các sơ đồ sản xuất metanol, etanol trong công nghiệp dầu khí).
- Dạng 4: Nhận biết và phân biệt các chất hữu cơ.
- Dạng 5: Tách chất và loại bỏ tạp chất ra khỏi hỗn hợp.
- Dạng 6: So sánh, giải thích cấu tạo và tính chất hóa học.
- Dạng 7: Viết công thức đồng đẳng, đồng phân và gọi tên danh pháp.
- Dạng 8: Xác định công thức cấu tạo dựa vào dữ kiện thực nghiệm.
- Bài tập định lượng: Gồm các dạng toán: độ rượu và hiệu suất điều chế; phản ứng cháy và phản ứng với natri của một ancol hoặc hỗn hợp ancol; phản ứng tách nước tạo ete/anken; phản ứng oxi hóa ancol bằng $\text{CuO}$ nung nóng; bài toán hỗn hợp ancol và phenol phản ứng với natri hoặc dung dịch brom.
- Bài tập trắc nghiệm khách quan: Xây dựng hệ thống câu hỏi nhiều lựa chọn bám sát các mức độ nhận thức của chương.
Chương 2 đồng thời đề xuất 4 phương thức sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học: sử dụng khi hình thành kiến thức mới; sử dụng trong tiết ôn tập, luyện tập; sử dụng trong tiết kiểm tra đánh giá; và sử dụng bài tập để liên hệ, mở rộng hiểu biết về các vấn đề thực tiễn.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 mô tả quá trình thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi của hệ thống bài tập đã biên soạn. Tác giả tiến hành dạy thực nghiệm trên 5 cặp lớp tương đương tại trường THPT Nguyễn Thượng Hiền (TP.HCM), phân định rõ lớp thực nghiệm (TN1 đến TN5) sử dụng hệ thống bài tập và phương pháp mới, đối chứng với các lớp đối chứng (ĐC1 đến ĐC5) dạy theo phương pháp truyền thống.
Nội dung đánh giá thực nghiệm bao gồm:
- Đánh giá định tính: Quan sát thái độ, hứng thú học tập, mức độ chủ động phát biểu, tính linh hoạt trong giải bài tập và khả năng tự phát hiện vấn đề của học sinh ở các lớp thực nghiệm.
- Đánh giá định lượng: Thu thập kết quả điểm số qua các bài kiểm tra được thiết kế thống nhất; sử dụng các công cụ thống kê toán học để lập bảng phân phối tần suất, bảng tần suất lũy tích, vẽ đồ thị đường lũy tích điểm số và xác định các tham số đặc trưng (điểm trung bình, độ lệch chuẩn, phương sai, hệ số biến thiên, kiểm chuẩn $t$-Student) giữa các lớp TN và ĐC.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả thực nghiệm và số liệu nghiên cứu:
- Khảo sát thực trạng cung cấp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh đúng thực tế giảng dạy môn Hóa học lớp 11: 100% giáo viên được hỏi khẳng định vai trò tích cực của bài tập trong việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo; 93,04% học sinh nhận thức bài tập là phương tiện học tập then chốt; tuy nhiên có tới 53,05% học sinh chỉ sử dụng bài tập trong sách giáo khoa và khoảng 30% học sinh còn e ngại trước các dạng bài tập sáng tạo phức tạp.
- Kết quả thực nghiệm sư phạm trên 5 cặp lớp tại THPT Nguyễn Thượng Hiền bước đầu khẳng định giả thuyết khoa học: việc vận dụng hệ thống bài tập được phân loại hợp lý giúp học sinh ở các lớp thực nghiệm thể hiện tư duy linh hoạt hơn, tỷ lệ đạt điểm khá, giỏi cao hơn và đường lũy tích điểm số của lớp thực nghiệm dịch chuyển về phía điểm cao hơn so với lớp đối chứng.
Về các giải pháp và đóng góp của đề tài:
- Hệ thống hóa bộ 6 nguyên tắc và quy trình 5 bước biên soạn bài tập hóa học phục vụ định hướng phát triển năng lực sáng tạo.
- Xây dựng trọn bộ hệ thống bài tập tự luận phong phú gồm 8 dạng định tính và 6 nhóm bài tập định lượng cho chương Ancol - Phenol lớp 11 nâng cao.
- Đưa vào nhiều bài tập có nội dung thực tiễn sinh động (cơ chế sát trùng của cồn y tế, dụng cụ phân tích phát hiện cồn trong hơi thở người lái xe, kỹ thuật sơ cứu bỏng phenol bằng glixerol, quy trình hóa dầu sản xuất etanol/metanol).
- Đề xuất 4 hướng vận dụng hệ thống bài tập vào các khâu khác nhau của tiến trình dạy học (bài mới, luyện tập, kiểm tra, liên hệ thực tế) giúp giáo viên phổ thông có tài liệu tham khảo cụ thể để đổi mới phương pháp giảng dạy.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có những giới hạn nhất định xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn nội dung: Hệ thống bài tập mới chỉ được xây dựng chuyên sâu cho một đơn vị kiến thức cụ thể là Chương 8 (Ancol - Phenol) trong chương trình Hóa học lớp 11 nâng cao, chưa bao quát toàn bộ học phần Hóa học hữu cơ lớp 11 cũng như các phần kiến thức khác của bậc THPT.
- Giới hạn địa bàn thực nghiệm: Mẫu khảo sát thực trạng và quá trình thực nghiệm sư phạm mới chỉ triển khai tại một số trường THPT trên địa bàn TP.HCM (khảo sát tại THPT Nguyễn Thượng Hiền, THPT Nguyễn Thị Minh Khai, THPT Trần Khai Nguyên; thực nghiệm giảng dạy trực tiếp giới hạn trong phạm vi trường THPT Nguyễn Thượng Hiền).
Hướng mở nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc nhân rộng nguyên tắc và quy trình biên soạn này để xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực sáng tạo cho toàn bộ chương trình Hóa học hữu cơ lớp 11 và lớp 12; đồng thời mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm tại nhiều trường THPT thuộc các khu vực địa lý khác nhau để tăng cường tính khái quát hóa của đề tài.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích đối với:
- Giáo viên Hóa học THPT: Cung cấp tuyển tập bài tập định tính và định lượng chương Ancol - Phenol được chọn lọc, phân dạng tỉ mỉ kèm các hiện tượng thực tế, có thể sử dụng ngay trong các bài giảng trên lớp, giờ luyện tập và thiết kế đề kiểm tra định kỳ.
- Sinh viên ngành Sư phạm Hóa học và học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Hóa học: Tham khảo khung lý thuyết về năng lực sáng tạo, cấu trúc năng lực hành động, 6 nguyên tắc và quy trình 5 bước thiết kế bài tập học đường.
- Người làm nghiên cứu về phương pháp dạy học: Tham khảo phương thức thiết kế và triển khai một quy trình thực nghiệm sư phạm mẫu (cách xây dựng phiếu điều tra thực trạng, thiết kế cặp lớp đối chứng - thực nghiệm, và phương pháp thống kê xử lý số liệu kiểm tra).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận đề xuất bao nhiêu nguyên tắc để xây dựng hệ thống bài tập phát triển năng lực sáng tạo?
Tác giả đề xuất 6 nguyên tắc xây dựng bài tập: (1) Đảm bảo góp phần thực hiện mục tiêu môn học; (2) Đảm bảo tính chính xác, khoa học; (3) Đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng; (4) Đảm bảo tính vừa sức; (5) Đảm bảo củng cố kiến thức cho học sinh; (6) Đảm bảo phát huy tính tích cực nhận thức và năng lực sáng tạo của học sinh.
2. Thực trạng nguồn tài liệu bài tập mà học sinh sử dụng được khảo sát phản ánh điều gì?
Kết quả khảo sát 360 học sinh cho thấy 53,05% học sinh chỉ sử dụng bài tập từ sách giáo khoa. Số còn lại tìm kiếm bài tập trong sách bài tập, sách tham khảo hoặc mạng Internet. Điều này cho thấy nguồn tài liệu bài tập chất lượng cao và có định hướng phát triển năng lực sáng tạo dành cho học sinh còn tương đối hạn chế.
3. Khóa luận phân chia hệ thống bài tập định tính chương Ancol - Phenol thành những dạng nào?
Tác giả phân loại hệ thống bài tập định tính thành 8 dạng:
- Dạng 1: Giải các bài tập có quan sát và giải thích hiện tượng thí nghiệm và thực tiễn.
- Dạng 2: Viết phương trình phản ứng theo dãy biến hóa của các chất.
- Dạng 3: Điều chế các chất.
- Dạng 4: Nhận biết các chất.
- Dạng 5: Xác định tạp chất, tách hỗn hợp và điều chế chất mới.
- Dạng 6: So sánh, giải thích cấu tạo và tính chất hóa học của chất.
- Dạng 7: Viết đồng đẳng, đồng phân và danh pháp.
- Dạng 8: Xác định công thức cấu tạo dựa vào dữ kiện đề bài.
4. Những hiện tượng đời sống thực tế nào được đưa vào hệ thống bài tập của khóa luận?
Hệ thống bài tập lồng ghép nhiều câu hỏi liên hệ đời sống thiết thực thuộc chương Ancol - Phenol, tiêu biểu như: giải thích cơ chế sát trùng vết thương của cồn y tế; nguyên lý hoạt động của các dụng cụ phân tích khí thở giúp cảnh sát phát hiện tài xế đã uống rượu; biện pháp sơ cứu khi bị bỏng phenol bằng cách rửa nhiều lần bằng glixerol rồi mới rửa lại bằng nước; và phân tích các sơ đồ sản xuất etanol, metanol trong công nghiệp dầu khí.
5. Khóa luận đã tiến hành thực nghiệm sư phạm trên những đối tượng nào?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại trường THPT Nguyễn Thượng Hiền (TP.HCM) trên 5 cặp lớp: TN1 - ĐC1, TN2 - ĐC2, TN3 - ĐC3, TN4 - ĐC4, TN5 - ĐC5 nhằm kiểm tra, so sánh kết quả học tập giữa các lớp giảng dạy bằng hệ thống bài tập mới và các lớp đối chứng giảng dạy theo phương pháp thông thường.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Ngọc Thảo Vi đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về bài tập hóa học và năng lực sáng tạo của học sinh THPT, đồng thời phản ánh khách quan thực trạng dạy và học phần Hóa học hữu cơ tại TP.HCM. Bằng việc xây dựng tuyển tập bài tập định tính, định lượng phong phú thuộc chương Ancol - Phenol lớp 11 nâng cao gắn liền với 6 nguyên tắc và quy trình 5 bước biên soạn khoa học, đề tài đã cung cấp giải pháp sư phạm cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Kết quả thực nghiệm sư phạm trên 5 cặp lớp tại trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đã bước đầu minh chứng tính khả thi và hiệu quả của hệ thống bài tập trong việc kích thích tư duy độc lập và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh phổ thông.