CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN ĐÔNG SƠN 1. Sơ lược về lịch sử phát triển. Công việc quản lý xây dựng đã được loài người quan tâm từ khá lâu. Cách đây 4200 năm, vào khoảng năm 2200 trước công nguyên, tại Đế quốc Babilonian ở vùng Trung Đông (Iran, Irắc ngày nay) đã ra đời một Bộ luật bao gồm nội dung xây dựng mang tên Hammurabi, bộ luật này được coi là bộ luật có nội dung quy định về xây dựng đầu tiên của loài người.
Đến những năm 50 và 60 của thập niên XX, khoa học lập kế hoạch tiến độ phát triển như biểu đồ ngang (bar chart), sơ đồ xiên và sơ đồ mạng lưới (CPM) đã giúp các nhà quản lý xây dựng trong việc lập và quản lý kế hoạch tiến độ. Đến cuối thập kỷ 60, máy tính xuất hiện và là phương tiện, công cụ đắc lực cho việc quản lý và điều hành xây dựng. Tóm lại, ngành xây dựng là ngành có một truyền thống về việc xây dựng các kết cấu và các công trình thúc đẩy quá trình phát triển của ngành. Trước đổi mới củng như sau đổi mới mặc dù hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm “dân là gốc”, luôn luôn quan tâm đến sự phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đến năm 2009 Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra một bộ tiêu chí quốc gia về NTM một cách đầy đủ và toàn diện.
Qua 5 năm triển khai thực hiện việc quản lý dự án xây dựng các công trình phát triển NTM chúng ta phải nâng cao chất lượng bộ máy và con người làm việc về lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng phát triển NTM là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến sự phát triển của ngành xây dựng nói chung và hiệu quả của từng dự án đầu tư xây dựng NTM mói riêng. Kinh nghiệm quản lý dự án đầu tư xây dựng phát triển nông thôn mới tại Hàn Quốc. Hàn Quốc vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX là một nước nghèo sau chiến tranh, GDP bình quân đầu người chỉ có 85 USD, không đủ lương thực và phần lớn người dân không đủ ăn. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng hạn hán và lũ lụt thường xuyên xảy ra khắp đất nước.
Đến năm 1970 vẫn còn 70% dân số sống ở nông thôn, trong số đó 80% sống trong điều kiện khó khăn. Sau trận lụt lớn năm 1969, trong khi đi khảo sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hy nhận rằng viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự kiếu lấy mình. Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn. Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào “Saemaulundong’’ (phong trào đổi mới của nông thôn) được đích thân Tổng thống Park phát động vào ngày 22 tháng 4 năm 1970.
Phong trào đổi mới nông thôn đã đề cao “Tinh thần Saemaul gồm 3 thành tố: “Chăm chỉ-Tự lực- Hợp tác”. Cơ sở để hình thành tinh thần này là: “Chăm chỉ là động cơ tự nguyện của người dân, không ngừng vượt qua khó khăn để tiến tới thành công, “Tự lực” là ý chí bản thân, tinh thần làm chủ, chịu trách nhiệm về cuộc sống và vận mệnh của bản thân và “Hợp tác” là nhận thức về mong muốn phát triển cộng đồng phải nhờ vào nỗ lực của tập thể. 6 Sự ra đời kịp thời của “Saemaulundon” vào đúng lúc nông thôn Hàn Quốc đang trì trệ trong đói nghèo đã tạo ra sự bứt phá mạnh mẽ và nhanh chóng đạt được những kết quả khả quan. Tới năm 1974, chỉ sau 4 năm phát động “Saemaulundon”, sản lượng lúa tăng đến mức có thể tự túc lương thực, phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác, thu nhập một năm của hộ nông dân (674 nghìn won tương đương 562 USD) cao hơn so với hộ ở thành thị (644 nghìn won tương đương 537 USD).
Về quản lý dự án xây dựng NTM, nhà nước hỗ trợ, nhân dân đóng góp công của, nhân dân tự quyết định loại công trình nào cần ưu tiên xây dựng và chịu trách nhiệm, quyết định tất cả về thiết kế, chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình. Nhà nước bỏ ra 1 (chủ yếu là vật tư, xi măng, sắt thép.) thì nhân dân bỏ ra 5 – 10 (công sức, tiền của). Sự giúp đỡ đó của Nhà nước trong năm đầu chiếm tỷ trọng cao, dần dần các năm sau tỷ trọng hỗ trợ của Nhà nước giảm trong khi quy mô địa phương và nhân dân tham gia tăng dần. Nhân dân thực hiện và bước đầu đã đạt được kết quả khả quan.
Và bước đi của chương trình này diễn ra như sau: - Phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng NTM. Nông dân ở mỗi làng dưới sự tổ chức của Uỷ ban phát triển nông thôn tiến hành dân chủ lựa chọn các dự án phát triển. Bước đầu là các công trình xây dựng thôn xã. Có khoảng 16 loại dự án chi tiết đáp ứng yêu cầu như làm đường, làm cầu,.
qua hệ thống hành chính địa phương, mỗi làng báo cáo và liệt kê các dự án theo thứ tự ưu tiên cho các văn phòng huyện. 7 - Để kích cầu tiêu thụ bớt xi măng sản xuất ứ đọng, Chính phủ phân phối xi măng hỗ trợ các làng làm chương trình xây dựng NTM, 1.600 làng được chọn tiến hành dự án bước đầu Chính phủ cấp cho mỗi làng 300 bao phân phối qua các kênh hành chính địa phương, từ TW - Tỉnh - tới làng không phân biệt quy mô và vị trí của làng, không phân biệt làng giàu làng nghèo. Trợ giúp khiêm tốn này được coi như chất xúc tác thúc đẩy phát triển đi lên. Đến năm 1978, các dự án phát triển xây dựng giao thông nông thôn cơ bản được hoàn thành, tổng chiều dài con đường mới được xây dựng mới và mở rộng từ làng tới các trục đường chính lên tới 43.
Các con đường trong xã được mở rộng và xây mới lên tới 42.000 các cây cầu kênh nhỏ các loại được sửa chữa và xây mới. Vào năm 1980, bộ mặt nông thôn có thể nói đã hoàn toàn thay đổi với đầy đủ điện, đường, nước sạch, công trình văn hoá. “Saemaulundong” từ một phong trào ở nông thôn đã lan ra thành một phong trào đổi mới toàn xã hội Hàn Quốc. Công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng phát triển NTM ở Việt Nam Hàng năm vốn đầu tư vào lĩnh vực xây dựng, xây dựng NTM chiếm tỷ trọng lớn đã góp phần làm thay đổi bộ mặt của đất nước một cách nhanh chóng, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nông thôn.
Tuy vậy, vẫn còn một số tồn tại trong các ban quản lý dự án, các hành vi vi phạm pháp luật về xây dựng vẫn còn xảy ra. Một số điểm nổi bật trong tình hình quản lý đầu tư xây dựng hiện nay ở nước ta là: - Nhà nước đang tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật xây dựng NTM hàng năm khối lượng đầu tư rất lớn. 8 - Phạm vi đầu tư toàn quốc từ đồng bằng, miền núi đến hải đảo, chủng loại dự án rất đa dạng: dân dụng, công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn… - Quy mô đầu tư các dự án cũng rất khác nhau, có dự án chỉ đến vài trăm triệu đồng song cũng có dự án hàng tỷ đồng. - Thời gian đầu tư và xây dựng các dự án cũng rất khác nhau, có dự án chỉ một vài tháng song có dự án kéo dài năm, bảy năm thậm chí trên 10 năm.
* Nguồn vốn tham gia đầu tư rất phong phú: - Vốn ngân sách (Trung ương và địa phương) bao gồm: + Vốn từ các Chương trình MTQG và các chương trình, dự án có mục tiêu đang triển khai và sẽ tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo trên địa bàn; + Vốn bố trí trực tiếp cho chương trình để thực hiện các nội dung theo Quyết đinh 695/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 của Thủ tướng Chính Phủ. - Nguồn vốn trái phiếu Chính Phủ (nếu có) để đầu tư các dự án, chương trình theo Nghị quyết của Quốc hội; - Nguồn vốn tín dụng, bao gồm: vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn tín dụng thương mại; - Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp; - Các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân trong xã; vốn huy động từ cộng đồng (các khoản đóng góp tự nguyện và viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước); - Các nguồn vốn hợp pháp khác. * Về nguồn nhân lực trong thực hiện và quản lý đầu tư xây dựng: Các tổ chức và cá nhân tham gia thực hiện đầu tư xây dựng rất đa dạng, gồm cả doanh nghiệp trong và ngoài nước, nhân dân. Công tác quản lý đầu tư 9 xây dựng gồm các bộ máy cán bộ từ trung ương đến tận xã cũng như các doanh nghiệp.
Năng lực cán bộ thực hiện và quản lý dự án đang là vấn đề được nhiều chủ đầu tư quan tâm, qua các cuộc thanh tra các dự án đầu tư xây dựng cho thấy còn nhiều tồn tại, vi phạm về thủ tục đầu tư và xây dựng, quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng NTM. *Hệ thống quản lý nhà nước về xây dựng: Đã được tổ chức đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về xây dựng, xây dựng NTM trong thời gian qua. Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì hệ thống quản lý xây dựng, xây dựng NTM của nước ta vẫn còn cồng kềnh và chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Chưa huy động hết các nguồn lực trong xã hội tham gia quản lý xây dựng, trách nhiệm còn chồng chéo, hiệu quả hoạt động chưa cao.
*Tình trạng lãng phí và thất thoát trong đầu tư xây dựng: Măc dù bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng tổ chức đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng cũng đã từng bước được kiện toàn nhưng tình trạng thất thoát, lãng phí trong xây dựng vẫn còn xảy ra; chất lượng một số công trình còn kém. Công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng phát triển NTM tại Nghệ An.