phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về phát triển năng lực cán bộ quản lý dự án đầu tƣ ứng dụng công nghệ thông tin. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng năng lực cán bộ quản lý án đầu tƣ ứng dụng công nghệ thông tin tại Cục Công nghệ thông tin, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng. Chƣơng 4: Một số giải pháp phát triển năng lực cho cán bộ quản lý dự án các dự án đầu tƣ ứng dụng công nghệ thông tin tại Cục Công nghệ thông tin, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng. 8 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÁN BỘ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Đã có khá nhiều luận văn, luận án nghiên cứu các đề tài liên quan đến phát triển năng lực cán bộ của các tổ chức nói chung và tổ chức hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin nói riêng tại Việt Nam như: - Luận văn Thạc sỹ: “Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc khối sản xuất trực tiếp tại Trung tâm Công nghệ thông tin – Tập đoàn Điện lực Việt Nam” của Nguyễn Hoàng Sơn (năm 2013), đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao năng lực cán bộ quản lý cấp phòng. Xác định được các yêu cầu về năng lực quản lý đối với CBQL cấp phòng thuộc khối SXTT tại Trung tâm CNTT. - Luận văn Thạc sỹ: “Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý phân xưởng sản xuất tại Công ty cổ phần Xi măng Vicem Hoàng Mai” của Trần Minh Đức (năm 2013) đề tài tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng năng lực quản lý của cán bộ quản lý phân xưởng ở Công ty cổ phần Xi măng Vicem Hoàng Mai từ năm 2009 – 2012, tìm ra nguyên nhân làm hạn chế năng lực cán bộ quản lý phân xưởng và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý phân xưởng ở Công ty cổ phần Xi măng Vicem Hoàng Mai đến năm 2020. - Luận văn Thạc sỹ: “Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ lãnh đạo UBND xã trên địa bàn huyện Thường tín, Hà Nội” của tác giả Lý Văn Dũng (năm 2013) đã phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản lý của cán bộ lãnh đạo cấp xã tại Thường Tín, Hà Nội.
- Luận văn Thạc sỹ: “Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý cấp phòng ban tại Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân” của Bùi Đức Dũng (năm 2012), đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực cán bộ quản lý cấp phòng 9 z ban, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nân cao năng lực cán bộ quản lý cấp phòng ban tại Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân. - Luận văn Thạc sỹ: “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin tại thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” của tác giả Trần Bồ Anh Thoa (năm 2013), luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực công nghệ thông tin giai đoạn 2005 – 2010 từ đó tìm ra những nguyên nhân làm hạn chế khả năng phát triển của ngành và đề xuất các giải pháp phát triển đến năm 2020 của ngành Công nghệ thông tin tại TP. Hồ Chí Minh. Với rất nhiều đề tài đã nghiên cứu về năng lực cán bộ quản lý hoạt động trong nhiều lĩnh vực của các tổ chức tại Việt Nam, nhưng cho đến nay (2015) chưa có đề tài nào nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển năng lực cho các cán bộ làm công tác quản lý dự án đầu tư nói chung và cán bộ quản lý dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin nói riêng tại Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển năng lực cán bộ quản lý dự án đầu tƣ ứng dụng công nghệ thông tin 1. Khái niệm về dự án, quản lý dự án đầu tƣ ứng dụng CNTT Khái niệm dự án Có khá nhiều khái niệm về dự án, cụ thể như : - Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó trong một thời gian nhất định dưới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn lực đã định. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà bạn mong muốn. Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định.
Dự án là một quá trình mang đặc thù riêng bao gồm một loạt các hoạt động được phối hợp và kiểm soát, có định ngày khởi đầu và kết thúc, được thực hiện với những hạn chế về thời gian, chi phí và nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu phù hợp với những yêu cầu cụ thể. 10 z Khái niệm dự án ứng dụng công nghệ thông tin Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin. Theo quan niệm này thì CNTT là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, chủ yếu là máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá. của con người.
Dự án CNTT: CNTT = Phần cứng + Phần mềm, sự tích hợp phần cứng, Phần mềm và con người; - Dự án CNTT = Dự án liên quan đến phần cứng, phần mềm, và mạng máy tính. Từ khái niệm dự án và dự án công nghệ thông tin nêu trên, có thể hiểu khái niệm dự án ứng dụng công nghệ thông tin như sau: "Dự án ứng dụng công nghệ thông tin" là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để thiết lập mới, mở rộng hoặc nâng cấp cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật, phần mềm và cơ sở dữ liệu nhằm đạt được sự cải thiện về tốc độ, hiệu quả vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ trong ít nhất một chu kỳ phát triển của công nghệ thông tin." - Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 102/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Các dự án đầu tư ứng dụng CNTT có đặc điểm: Thứ nhất, hoạt động đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin đòi hỏi một số lượng vốn lớn (do chi phí cho đầu tư cho các thiết bị công nghệ thông tin thường rất lớn) và để nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Thứ hai, hoạt động đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin thường mang lại kết quả là tăng năng suất, tăng hiệu quả thực hiện công việc.
Do đặc thù của các sản phẩm công nghệ thông tin là được tạo ra để trợ giúp hoạt động sản xuất chính. Vì 11 z vậy, việc xác định các chỉ tiêu về hiệu quả tài chính đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ thông tin là rất khó khăn. Thứ ba, hoạt động đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin thường chịu rủi ro về mặt công nghệ, tức là kết quả của các hoạt động đầu tư có nhiều nguy cơ bị lạc hậu hay nói cách khác là các sản phẩm của dự án đầu tư công nghệ thông tin có hao mòn vô hình lớn. Lí do là ngày nay, công nghệ thông tin thường xuyên phát triển với tốc độ chóng mặt.
Cho nên có thể nói sản phẩm công nghệ thông tin lạc hậu ngay từ khi nó ra đời. Thứ tư, các thành quả của hoạt động đầu tư có giá trị sử dụng không lâu và đòi hỏi phải thường xuyên được cập nhật, nâng cấp. Cũng do tốc độ phát triển như vũ bão hiện nay của công nghệ thông tin cho nên muốn đảm bảo chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, muốn theo kịp mọi tiến bộ của thời đại, không bị lạc hậu so với các đối thủ cạnh tranh thì chủ đầu tư phải thường xuyên theo dõi sự phát triển của công nghệ thông tin để từ đó có kế hoạch hợp lí cho việc cập nhật và nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin của mình. Khái niệm quản lý dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin Quản lý dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát các hoạt động nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành được các mục tiêu đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật, chất lượng của sản phẩm, dịch vụ, bằng các phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép.
Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án nói chung là hoàn thành các công việc dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt và theo đúng tiến độ thời gian cho phép. Ba yếu tố cơ bản của quản lý dự án đó là: thời gian, nguồn lực (cụ thể là chi phí, nguồn nhân lực …) và chất lượng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tầm quan trọng của từng mục tiêu có thể khác nhau giữa các dự án, giữa các thời kỳ đối với từng dự án, nhưng tựu chung, đạt được tốt mục tiêu này thường phải giảm bớt kỳ vọng một trong hai mục tiêu kia. Cụ thể, trong quá trình quản lý dự án thường diễn 12 z ra các hoạt động đánh đổi mục tiêu.
Nội dung quản lý dự án đầu tư ứng dụng CNTT Nội dung quản lý dự án đầu tư ứng dụng CNTT có thể tiếp cận theo hai cách: Xét theo khía cạnh quá trình thì nội dung quản lý dự án đầu tư ứng dụng CNTT gồm các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát. Xét theo góc độ lĩnh vực công việc thì nội dung quản lý dự án đầu tư ứng dụng CNTT gồm các hoạt động quản lý chi phí (tài chính), nhân lực, chất lượng và tiến độ. Cụ thể theo bảng 1.