Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách nâng cao năng lực công nghệ phát thanh, truyền thanh - Chương 2. Khảo sát thực trạng chính sách nâng cao năng lực công nghệ phát thanh, truyền thanh trên địa bàn huyện Bình Giang - Chương 3. Giải pháp chính sách nâng cao năng lực công nghệ phát thanh, truyền thanh trên địa bàn huyện Bình Giang CHUONG 1.
CO SO LY LUAN VE CHINH SACH NANG CAO NANG LUC CONG NGHE PHAT THANH, TRUYEN THANH 1. Tổng quan về công nghệ 1. Khai niệm công nghệ Thuật ngữ công nghệ được hình thành từ khá lâu và được sử dụng khá phổ biến, đã có nhiều tác giả đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ. Năm 1986 tác gia Naar Sharif đã đưa ra một số định nghĩa khá khái quát về công nghệ.
Công nghệ là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất và/ hoặc thông tin về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất và/hoặc thông tin. Công nghệ là một tập hợp phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 yếu tố; - Phần kỹ thuật( Technoware - T) - Phan thông tin (Inforware — I) - Phan con người ( Humanware — H) - Phan thiết chế t6 chức( Orgawre — O) Đây cũng là 4 yếu tố công nghệ theo quan điểm của trung tâm chuyên giao công nghệ Châu A — Thái Binh Dương(APCTT). Năm 1988 Ông Graham đưa ra định nghĩa: Công nghệ là kiến thức không thê sờ mó được và không phân chia được, có lợi ích về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản pham dich vu. Tổ chức OECD, gồm các nước phát triển châu Âu, Nhật Bản, Mỹ va Canada lại có một định nghĩa chung: Công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có các trình tự kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước( và đôi khi được kỳ vọng) trong một hoàn cảnh nhất định.
7 Theo Định nghĩa công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu A — Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia andthe Pacific — ESCAP); “Công nghệ là kiến thức có hệ thong về quy trình và kỹ thuật dùng dé chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thong dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ” Định nghĩa công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ. Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội và bao gồm các phần vật thé là máy móc thiết bị. Những lĩnh vực công nghệ mới mẻ dan trở thành quen thuộc: công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng.
Cũng cần lưu ý răng trong nhiều trường hợp, khi cần thiết, người ta vẫn sử dụng định nghĩa công nghệ khác cho một mục đích nao đó. Cụ thể như: Trong lý thuyết tổ chức, người ta coi “công nghệ là khoa học và nghệ thuật dùng trong sản xuất và phân phối hàng hoá và dịch vụ"; Xét tổng quát các quan điểm ở trên một công nghệ bao gồm một bộ biến đổi (trong đó có máy móc thiết bị, con người v.) thực hiện chức năng biến đổi đầu vào thành đầu ra theo một quy trình dé tạo ra giá trị. Quá trình biến đổi này diễn ra trong một không gian gồm các yếu tô khác nhau. Quan niệm này được trình bày trên hình 1.
Quan niệm như vậy rất phù hợp với quản lý chất lượng đồng bộ (TQM). Điều này có nghĩa là để quản lý tốt và vận hành một cách hiệu quả một công nghệ cần phải quản lý mọi thành phần câu thành và các yêu tô liên quan đên công nghệ đó. Đâu vào + Bo biến bién đổi asi |-— Đầu ra Hình 1.1 Sơ đồ quá trình biến đổi của một công nghệ Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2013 đã đưa ra định nghĩa khái quát: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguôn lực thành sản phẩm”. Thành phần của công nghệ Theo Sharif [Management of Technology for Developing Coutries] thi mỗi công nghệ có bốn thành phan cấu thành.
Phần vật tư kỹ thuật (Technoware - T), đây là thành phần của công nghệ được hàm chứa trong các vật thể bao gồm các công cụ, thiết bị, máy móc, phương tiện va các cấu trúc hạ tang xây dựng như nhà xưởng. Trong công nghệ sản xuất, các vật thê này thường làm thành dây chuyền đề thực hiện quá trình biến đổi (thường gọi là dây chuyền công nghệ), ứng với một qui trình công nghệ nhất định, đảm bảo tính liên tục của quá trình công nghệ. Phần con người (Humanware - H), thành phan của công nghệ được hàm chứa trong khả năng công nghệ của con người vận hành sử dụng công nghệ. Như vậy, phần con người của một công nghệ cụ thể nào đó là những con người được đảo tạo để có sự hiểu biết về vận hành công nghệ đó.
Nó bao gồm: kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng do học hỏi, tích luỹ được trong quá trình hoạt động, nó cũng bao gôm các tô chât của con người như tính sáng tao, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức lao động v. Các yếu tổ này một cá nhân có được từ ba nguồn: thiên phú, giáo dục đào tạo, nuôi và dưỡng. Phần thông tin (Inforware - I) thành phần của công nghệ được hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá để sử dụng trong các hoạt động với công nghệ. Nó bao gồm các đữ liệu về máy móc, về phần con người và phần tô chức.
Ví dụ: dữ liệu về phần kỹ thuật như các thông số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị, để duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu dé thiết kế các bộ phận của phan kỹ thuật, thuyết minh sử dụng phan máy moc v. Phần tổ chức (Orgaware - O), đây là thành phan của công nghệ được hàm chứa trong khung thé chế dé xây dựng cấu trúc tổ chức: những quy định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân hoạt động trong công nghệ, kế cả những quy trình tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, thù lao, khen thưởng kỷ luật và sa thải phần con người, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần vật tư kỹ thuật và phần con người. Các thành phan của một công nghệ có quan hệ mật thiết bổ sung cho nhau, không thé thiếu bat cứ thành phan nao. Tuy nhiên, có một giới hạn tối thiểu cho mỗi thành phan dé có thể thực hiện quá trình biến đổi, đồng thời có một giới hạn tối đa cho mỗi thành phan dé hoạt động biến đổi không mat đi tính tối ưu hoặc tính hiệu quả.
Nếu không hiểu chức năng và mối tương hỗ giữa các thành phần của một công nghệ, có thê dẫn đến lãng phí trong đầu tư trang thiết bị do các thành phần khác không đồng bộ khiến trang thiết bị, máy móc không phát huy hết tính năng của chúng. Phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào. Nhờ máy móc, thiết bị, phương tiện, con người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ. Dé day chuyén công nghệ có thể hoạt động được, cần có sự liên kết giữa phần kỹ thuật, phần con người và phần thông tin.
Con người làm cho máy móc hoạt động, đông thời con người còn có thê cải tiên, mở rộng các tính 10 năng của nó. Do mối tương tác giữa phần kỹ thuật, con người, thông tin nên khi phần kỹ thuật được nâng cấp, thì phần con người, phần thông tin cũng phải được nâng cấp tương ứng. Trong công nghệ sản xuất, con người có hai chức năng: điều hành và hỗ trợ. Chức năng điều hành gồm: vận hành máy móc, giám sát máy móc hoạt động.
Chức năng hỗ trợ gồm bảo dưỡng, bảo đảm chất lượng, sử dụng sản xuất. Sự phức tạp của con người không chỉ phụ thuộc vào kỹ năng làm việc mà còn ở thái độ của từng cá nhân đối với công việc. Con người quyết định mức độ hiệu quả của phần kỹ thuật. Điều này liên quan đến thông tin mà con người được trang bị và hành vi của họ dưới sự điều hành của t6 chức.
Do đó phan thông tin thường được coi là “sức mạnh” của một công nghệ. Tuy nhiên “sức mạnh” của công nghệ lại phụ thuộc con người, bởi vì con người trong quá trình sử dung sẽ bổ sung, cập nhật các thông tin của công nghệ. Mặt khác, việc cập nhật thông tin của công nghệ dé đáp ứng với sự tiễn bộ không ngừng của khoa học. Phan tổ chức đóng vai trò điều hoà, phối hop ba thành phần trên của công nghệ dé thực hiện hoạt động biến đổi một cách hiệu quả.
Nó là công cụ dé sử dụng : lập kế hoạch, tổ chức bộ máy, bố trí nhân sự, động viên thúc day và kiểm soát mọi hoạt động trong công nghệ. Đánh giá vai trò của phần tô chức, người ta coi nó là “động lực” của một công nghệ. Mức độ phức tạp của phan tô chức trong công nghệ phụ thuộc vào mức độ phức tạp của ba thành phần còn lại của công nghệ. Những yếu té cơ bản của công nghệ phát thanh, truyền thanh a.
Phát thanh là gi? Phát thanh là một loại hình báo chí mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng âm thanh phong phú, sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhac) dé truyền tải thông điệp nhờ sử dụng sóng điện từ và hệ thống truyền thanh tác động vào thính giác công chúng. 11 Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 219/2005/QĐ-TTg ngày 09/09/2005 của Thủ tướng Chính phủ đã định nghĩa về phát thanh như sau: “Phá thanh là loại hình thông tin đại chúng mà nội dung thông tin được chuyển tải bằng âm thanh, tiếng nói qua làn sóng vô tuyến điện và truyền thanh qua hệ thong dây dẫn”. + Thông thường người ta chia phát thanh thành 2 loại: AM (Amplitude Modulation) là kỹ thuật điều biên được áp dụng trong phát thanh sóng dài, sóng trung và sóng ngắn. FM (Frequency Modulation) là kỹ thuật điều tan được áp dụng trong phát thanh sóng cực ngắn.
Phần lớn các đài phát thanh AM có công suất máy phát lớn và tầm hoạt động xa, song chất lượng loại phát thanh này thường bị ảnh hưởng bởi nhiễu tĩnh.