phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về năng lực công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Chƣơng 2: Thực trạng năng lực công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao năng lực công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Những vấn đề chung về công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm, phân loại công chức 1. Khái niệm công chức Công chức (CC) là một khái niệm chung đƣợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời công chức ở các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây. Từ nửa cuối thế kỷ XIX, tại nhiều nƣớc đã thực hiện chế độ công chức thời gian tƣơng đối lâu, công chức đƣợc hiểu là những công dân đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở của Nhà nƣớc ở trung ƣơng hay ở địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ở ngoài nƣớc đã đƣợc xếp vào một ngạch và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Trên thực tế mỗi quốc gia cũng có quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức, ví dụ nhƣ: Khái niệm về công chức ở Cộng hoà Pháp đƣợc định nghĩa: "Công chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nƣớc tổ chức, bao gồm cả trung ƣơng và địa phƣơng nhƣng không kể đến các công chức địa phƣơng thuộc các hội đồng thuộc địa phƣơng quản lý". Ở Trung Quốc, khái niệm công chức đƣợc hiểu là: "Công chức nhà nƣớc là những ngƣời công tác trong cơ quan hành chính nhà nƣớc các cấp, trừ nhân viên phục vụ.
Công chức gồm hai loại : (l) Công chức lãnh đạo là những ngƣời thừa hành quyền lực của nhà nƣớc. Các công chức này bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ 11 chức của chính quyền các cấp. (2) Công chức nghiệp vụ là những ngƣời thi hành chế độ thƣờng nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức. Họ chiếm tuyệt đại đa số trong công chức nhà nƣớc, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật".
Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nƣớc; Ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 76/SL về Quy chế công chức, tại Điều I, mục 1 công chức đƣợc định nghĩa là: "Những công dân Việt Nam, đƣợc chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí thƣờng xuyên trong các cơ quan của Chính phủ ở trong hay ngoài nƣớc". Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng bộ trƣởng quy định nhƣ sau: "công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở của nhà nƣớc ở trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc đã đƣợc xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc cấp gọi là công chức". Ngày 26/12/1998 Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, gồm 7 chƣơng, 48 điều và Pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi bổ sung năm 2003 đã nêu các đối tƣợng cán bộ công chức, gồm: Cán bộ công chức hành chính; cán bộ viên chức sự nghiệp; cán bộ công chức xã phƣờng thị trấn và công chức dự bị. Trên cơ sở đó, Nghị định 117/2003/NĐ-CP quy định: "Công chức là những ngƣời đƣợc nhà nƣớc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đƣợc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện, hoặc trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân hay công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, đƣợc phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, đƣợc xếp vào một ngạch hành chính, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc".
Theo Luật cán bộ công chức năm 2008 thì khái niệm công chức đƣợc 12 định nghĩa nhƣ sau: "Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ mấy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Đây là sự điều chỉnh chung đối với tất cả công chức trong các cơ quan nhà nƣớc mà cho đến nay, chƣa có bộ luật nào điều chỉnh riêng đối với công chức các cơ quan hành chính nhà nƣớc. Phân loại công chức Phân loại công chức là sự phân chia công chức ra thành các loại, các hạn ngạch khác nhau theo những nguyên tắc và tiêu chuẩn nhất định. Theo Điều 32 Luật cán bộ, công chức ngày 13/11/2008 của Quốc hội, công chức đƣợc phân loại nhƣ sau: - Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân loại như sau Công chức loại A gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tƣơng đƣơng; Công chức loại B gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tƣơng đƣơng; Công chức loại C gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tƣơng đƣơng; Công chức loại D gồm những ngƣời đƣợc bổ nhiệm vào ngạch cán sự 13 hoặc tƣơng đƣơng và ngạch nhân viên.
Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại như sau: Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Đặc điểm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Tại Khoản 1 Điều 9 Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng đã ghi nhận: “Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân đƣợc tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mƣu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực ở địa phƣơng và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nƣớc cấp trên”. Nhƣ vậy, các phòng, ban chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện (gọi tắt là cơ quan chuyên môn cấp huyện) chính là các đơn vị thuộc cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc thành lập ở huyện, chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực cấp trên.
Đây chính là cơ quan tham mƣu, giúp việc của Ủy ban nhân dân trong các lĩnh vực quản lý nhà nƣớc theo nhiệm vụ, quyền hạn và lĩnh vực đảm nhiệm. Cơ quan chuyên môn ở huyện đƣợc tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, tình hình phát triển kinh tế xã hội ở địa phƣơng, bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực Công chức tại các cơ quan chuyên môn đƣợc gọi là công chức hành chính. Họ làm việc trong các phòng, ban chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc theo chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban đó. Đặc điểm Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện là đơn vị giúp việc, tham mƣu cho chính quyền địa phƣơng cấp huyện ở nông thôn, do đó có nhiệm vụ giúp việc, tham mƣu cho Ủy ban nhân dân huyện trong việc: Tổ chức thực hiện ngân sách huyện; thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thƣơng mại, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lƣới giao thông, thủy lợi, xây dựng điểm dân cƣ nông thôn; quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên nƣớc, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, tài nguyên thiên nhiên khác; bảo vệ môi trƣờng trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật;… Vì vậy, công chức các phòng, ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện có các đặc điểm của công chức hành chính nhà nƣớc ở nông thôn: - Là một bộ phận nguồn nhân lực quan trọng trong hệ thống chính trị của huyện.
- Thƣờng xuyên thực hiện một công vụ theo nghiệp vụ chuyên môn mà công chức đó đảm nhiệm (kế toán, kiểm toán, văn thƣ, xây dựng, đất đai địa chính, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lƣới giao thông, thủy lợi, xây dựng điểm dân cƣ nông thôn,. - Thực hiện công vụ theo một quy trình công tác đã đƣợc pháp luật xác định và họ không có quyền thay đổi nếu không đƣợc pháp luật cho phép. - Đƣợc chia thành những bậc, hạng khác nhau tuỳ theo tính chất, yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ của công việc và đƣợc bổ nhiệm vào vị trí công tác theo thứ bậc đó (ví dụ: công chức ngạch cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính. - Công chức thực thi công vụ, đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Đặc điểm này giúp ta phân biệt công chức với những ngƣời là việc ở các doanh nghiệp và khu vực tƣ nhân hƣởng lƣơng không do nhà nƣớc chi trả.