Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẠNH TRANH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về NHTM 1.1 Khái niệm NHTM NHTM là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với cộng đồng địa phương nói riêng. Vậy NHTM là gì? Theo pháp luật nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một NHTM. Một cách tiếp cận khác của Peter S.Rose cho thấy: NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Theo quan điểm của các nhà kinh tế Việt Nam: NHTM là một tổ chức mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, trên nguyên tắc hoàn trả, tiến hành cho vay, chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán.
Quan điểm này cho thấy, hoạt động của các NHTM ở Việt Nam mới chỉ bao gồm các hoạt động truyền thống, tương ứng với hoạt động của các Ngân hàng trên thế giới ở giai đoạn thứ nhất từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18 và Việt Nam vẫn là một nước thiếu các dịch vụ ngân hàng. Theo Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12 tháng 12 năm 1997, NHTM được định nghĩa là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Như vậy, một cách chung nhất có thể thấy NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng.2 Các sản phẩm cung ứng của NHTM Hiện nay ở nước ta , chưa có sự thống nhất về danh mục các chỉ tiêu về dịch vụ ngân hàng và cũng chưa có công trình nghiên cứu điều tra thống kê về dịch vụ ngân hàng. Theo một số tác giả, dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo hai khía cạnh: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đều là hoạt động cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế. Quan niệm này phù hợp với phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và của Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, cũng như nhiều nước phát triển. Còn theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm các hoạt động chức năng của định chế tài chính trung gian huy động vốn và cho vay. Ở nước ta lĩnh vực dịch vụ ngân hàng được Luật Các tổ chức tín dụng( tại khoản 1 và khoản 7, điều 20) quy định nhưng không định nghĩa và giải thích.
Cụm từ “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” được bao trùm cả ba nội dung: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Trong phạm vi luận văn này, tác giả chia dịch vụ ngân hàng thành hai mảng, đó là: các sản phẩm dịch vụ truyền thống và các sản phẩm dịch vụ hiện đại. Các sản phẩm truyền thống: - Tiền gửi tiết kiệm: Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng.
Vì vậy, đây là một trong những nguồn vốn quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn cho vay của ngân hàng. Hiện nay, các NHTM thường cạnh tranh bằng cách nhận tiền gửi với nhiều loại kỳ hạn khác nhau, lãi và phương thức trả nợ khác nhau và cố gắng đáp ứng một cách tốt nhất nhằm đem lại sự thỏa mãn cho khách hàng. - Bảo quản vật có giá: Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách tờ biên nhận (giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành).
Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho giấy chứng nhận nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như 8 tiền – dùng để thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành. Lợi ích của việc sử dụng phương tiện thanh toán bằng giấy thay cho bằng kim loại đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để đổi lấy giấy chứng nhận của ngân hàng. Đó là hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng. Ngày nay, vật có giá được tách khỏi tiền gửi và khách hàng phải trả phí bảo quản.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch: Hoạt động này của ngân hàng cho phép người gửi tiền mở một tài khoản tiền gửi giao dịch và viết séc thanh toán cho việc mua bán hàng hoá và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn. - Thực hiện trao đổi ngoại tệ: Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ và hưởng phí dịch vụ. Sự trao đổi đó là rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố mà họ đến.
Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các Ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao. - Chiết khấu thương phiếu: Ngay ở thời kỳ đầu các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương, những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của các khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. - Cho vay và đầu tư: Cho vay kinh doanh: Các NHTM cho các doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn và trung dài hạn để bổ sung vốn kinh doanh. Các khoản vay ngắn hạn thường có mục đích bổ sung vốn lưu động với các hình thức như thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần và cho vay luân chuyển; trong khi các khoản vay trung dài hạn thường dùng để đầu tư vào tài sản cố định như mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng hay thực hiện các dự án.
9 Đầu tư: Các khoản đầu tư vào chứng khoán có khả năng trao đổi trên thị trường đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Chứng khoán cung cấp một nguồn thu nhập bổ sung cho ngân hàng, đây là một nguồn thu nhập tương đối quan trọng trong việc quản lý ngân hàng cũng như cho các cổ đông khi thu nhập từ danh mục cho vay suy giảm. Khoản mục đầu tư chứng khoán thanh khoản tạo nên tính lỏng cho tài sản của ngân hàng, hỗ trợ cho nguồn tiền mặt và nguồn tiền vay từ thị trường tiền tệ khi ngân hàng phải đáp ứng các yêu cầu thanh khoản quy mô lớn. Việc đầu tư vào chứng khoán chất lượng cao ngân hàng có thể điều chỉnh mức rủi ro tín dụng tổng thể trong danh mục tài sản.
Hiện nay, các ngân hàng đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau bao gồm các công cụ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ như tín phiếu kho bạc, chứng khoán của các cơ quan Chính phủ, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn. và các công cụ trên thị trường vốn phổ biến là trái phiếu kho bạc, trái phiếu của Chính quyền địa phương, chứng khoán được bảo lãnh bằng các khoản cho vay mua nhà và trái phiếu Công ty. - Cung cấp các dịch vụ uỷ thác: Thực hiện hoạt động này tức là ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt đông tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp thương mại. Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị tài sản hay quy mô vốn mà họ quản lý.
Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ uỷ thác thông thường cho cá nhân, hộ gia đình và uỷ thác thương mại cho các doanh nghiệp. Thông qua Phòng uỷ thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các khoản tiền để cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khoản tiền đó cho đến khi khách hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai trò là người được uỷ thác trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả và đảm bảo cho người thừa kế hợp pháp việc nhận được khoản thừa kế.
Trong phòng uỷ thác thương mại, ngân hàng quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền lương cho các công ty kinh doanh. Ngân hàng đóng vai trò như những người đại 1 lý cho các Công ty trong hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Điều này đòi hỏi phòng uỷ thác phải trả lãi hoặc cổ tức cho chứng khoán của công ty, thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách thanh toán toàn bộ cho những người nắm giữ chứng khoán. - Bảo lãnh: Các NHTM có thể phát hành chứng bảo lãnh, trong đó ngân hàng cam kết với bên thứ ba về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên thứ ba.
Nhờ có hoạt động bảo lãnh của các NHTM mà tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế, thương mại phát sinh nhất là các quan hệ thương mại quốc tế. Bù vào rủi ro mà các NHTM có thể gánh phải, các NHTM sẽ được hưởng khoản phí do khách hàng trả. Các sản phẩm hiện đại. - Cho thuê tài chính: Cho thuê tài chính là hình thức tín dụng trung, dài hạn được thực hiện thông qua việc cho thuê tài sản như máy móc, thiết bị, các động sản và bất dộng sản khác.
NHTM sẽ dụng vốn của mình để mua tài sản, thiết bị và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ hợp đồng trước hạn.