phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CHƢƠNG II THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA VIỄN THÔNG THANH HÓA TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CHƢƠNG III ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA VIỄN THÔNG THANH HÓA TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 4 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp viễn thông 1. Quan niệm về cạnh tranh và phân loại cạnh tranh Quan niệm về cạnh tranh Thuật ngữ “cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản. Đã có rất nhiều nhà kinh tế học có đóng góp cho lý thuyết về cạnh tranh.
Điểm lại lý thuyết cạnh tranh trong lịch sử có hai trƣờng phái tiêu biểu: Trƣờng phái cổ điển và trƣờng phái hiện đại. Trƣờng phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu nhƣ A.Smith, John Stuart Mill, Darwin và C.Mác đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau này. Trƣờng phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận: Tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trƣờng phái Chicago và Harvard; Tiếp cận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc trƣờng phái Viên; Tiếp cận “cạnh tranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển. Trong kinh tế thị trƣờng, cạnh tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp.
Cạnh tranh có thể đƣợc hiểu là sự ganh đua nhau giữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành những nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trƣờng, để đạt đƣợc một mục tiêu kinh doanh cụ thể, nhƣ lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một môi trƣờng nhƣ vậy đồng nghĩa với: ganh đua về giá cả, số lƣợng, dịch vụ hoặc kết hợp các yếu tố này và các nhân tố khác nữa để tác động đến khách hàng. Cạnh tranh đặc biệt phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất tƣ bản chủ nghĩa.Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật 5 những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu hút đƣợc lợi nhuận siêu ngạch” Với những quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh được hiểu là quan hệ kinh tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích.
Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Nhƣ vậy, cạnh tranh là một sự tranh đấu mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình nhƣ : chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng, đảm bảo tiêu thụ hiệu quả, nâng cao vị thế của mình. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Điều kiện cho sự cạnh tranh trên một thị trƣờng là: Có ít nhất là hai chủ thể có quan hệ đối kháng và có sự tƣơng ứng giữa sự cống hiến và phần đƣợc hƣởng của mỗi thành viên trên thị trƣờng.
Về bản chất, cạnh tranh là quá trình lựa chọn trên cơ sở so sánh giữa các nhóm đối tƣợng có những tính năng tác dụng tƣơng đối giống nhau, có thể thay thế lẫn nhau: Ngƣời lựa chọn (ngƣời tiêu dùng) Đối tƣợng Đối tƣợng. Đối tƣợng cạnh tranh 1 cạnh tranh 2 cạnh tranh n Hình 1.1: Mô hình người tiêu dùng và đối tượng cạnh tranh 6 Trong đó: Ngƣời lựa chọn: Tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng của mình mà ngƣời tiêu dùng đề ra các tiêu chí lựa chọn khác nhau. Đối tƣợng cạnh tranh: là các chủ thể cạnh tranh có khả năng đáp ứng các nhu cầu của ngƣời tiêu dùng ở các mức độ khác nhau. Ngày nay, hầu hết các nƣớc trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi trƣờng và động lực của sự phát triển mà còn là một yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, tạo động lực cho sự phát triển.
Do đó quan điểm đầy đủ về cạnh tranh có thể đƣợc nhìn nhận nhƣ sau: “Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất, kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển” Phân loại cạnh tranh * Xét theo chủ thể cạnh tranh - Cạnh tranh giữa ngƣời bán và ngƣời mua - Cạnh tranh giữa những ngƣời mua với nhau - Cạnh tranh giữa những ngƣời bán với nhau * Xét theo tính chất của cạnh tranh - Cạnh tranh hoàn hảo hay gọi là cạnh tranh thuần túy - Cạnh tranh không hoàn hảo * Xét về phƣơng diện pháp luật và ảnh hƣởng của cạnh tranh - Cạnh tranh lành mạnh - Cạnh tranh không lành mạnh * Xét theo công đoạn của quá trình kinh doanh hàng hóa - Cạnh tranh trƣớc khi bán hàng - Trong khi bán hàng - Sau khi bán hàng 7 * Xét theo cấp độ của cạnh tranh: - Cạnh tranh của nền kinh tế - Cạnh tranh của doanh nghiệp - Cạnh tranh của sản phẩm Ngoài các loại hình cạnh tranh đã nêu trên, ngƣời ta còn xét theo một số tiêu chí khác nữa: điều kiện không gian, lợi thế tài nguyên, nhân lực, đặc điểm tập quán sản xuất, tiêu dùng, văn hóa ở từng dân tộc, khu vực, quốc gia khác nhau mà phân loại thành cạnh tranh giữa các nƣớc và các khu vực trên thế giới. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế kế hoạch hoá khái niệm cạnh tranh hầu nhƣ không tồn tại song từ khi nền kinh tế nƣớc ta chuyển đổi, vận động theo cơ chế thị trƣờng thì cũng là lúc cạnh tranh và qui luật cạnh tranh đƣợc thừa nhận, vai trò của cạnh tranh ngày càng đƣợc thể hiện ƣu thế của nó rõ nét hơn: + Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh giữa cung và cầu + Cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối ƣu + Khuyến khích áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật + Thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của ngƣời tiêu dùng + Thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng năng xuất lao động và hiệu quả kinh tế - Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh: Cạnh tranh là một tất yếu trong nền kinh tế thị trƣờng. Các doanh nghiệp, các nhà sản xuất khi tham gia thị trƣờng buộc phải chấp nhận sự cạnh tranh. Cạnh tranh có thể coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không thể lẩn tránh mà phải tìm mọi cách để vƣơn lên và chiếm ƣu thế.
Ngày nay, xu thế cạnh tranh về chất lƣợng sản phẩm ngày càng tăng vì thế các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cải tiến quản lý và phƣơng thức sản xuất kinh doanh. Nhƣ vậy là cạnh tranh đã khuyến khích áp dụng các công nghệ mới, hiện đại, tạo sức ép buộc các 8 doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả nguồn lực trong phạm vi doanh nghiệp để giảm giá thành qua đó giảm giá bán và nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đảm bảo hoạt động có hiệu quả, giành đƣợc ƣu thế trên thị trƣờng. - Đối với nền kinh tế và xã hội: Đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội, cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động xã hội. Khi có cạnh tranh, các đối thủ cạnh tranh do có sự giành giật thị trƣờng và khách hàng nên luôn tìm mọi cách để nâng cao chất lƣợng sản phẩm và hạ giá bán sản phẩm.
Khi đó, ngƣời tiêu dùng có quyền lựa chọn các sản phẩm tốt nhất và phù hợp nhất với mong muốn tiêu dùng của mình. Trong cuộc cạnh tranh này, ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng không thể lợi dụng ƣu thế của nhau trên thị trƣờng. Lúc đó, cạnh tranh còn là một lực lƣợng điều tiết sản xuất và tiêu dùng. Cạnh tranh loại bỏ các doanh nghiệp có chi phí cao trong sản xuất, điều này buộc các nhà sản xuất phải lựa chọn phƣơng án sản xuất có chi phí thấp nhất.
Đó cũng chính là qui luật: Cạnh tranh là động lực, là bàn tay vô hình của thị trƣờng (Adam Smith). Vì vậy, cạnh tranh tạo sự đổi mới, mang lại sự tăng trƣởng kinh tế, tiết kiệm nguồn tài nguyên vốn ngày càng bị hạn chế. Ngoài ra, cạnh tranh còn là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hài hoà, hợp lý giữa lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của ngƣời tiêu dùng và lợi ích của toàn xã hội. Tuy nhiên, cạnh tranh sẽ kéo theo các vấn đề xã hội nhƣ nạn thất nghiệp, tiền công rẻ mạt, môi trƣờng sinh thái bị phá huỷ,.Vấn đề cốt lõi là các hành lang pháp lý để điều chỉnh mọi hành vi của doanh nghiệp.
Nếu Nhà nƣớc có đủ các bộ luật điều chỉnh mọi hành vi của doanh nghiệp thì các khuyết tật, các hạn chế sẽ đƣợc khắc phục. Nhƣng nếu hành lanh pháp lý không xuất phát từ thực tế, không phù hợp sẽ thành rào cản đối với các doanh nghiệp. Chính điều này đòi hỏi cần phải có sự quản lý của Nhà nƣớc đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể tự do cạnh tranh lành mạnh, có hiệu quả và giảm bớt các hậu quả không có lợi cho xã hội. Cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Cạnh tranh bằng chính sản phẩm Trong hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trƣờng của các doanh nghiệp, vấn đề sản phẩm bán tới tay khách hàng đƣợc coi trọng hàng đầu. Bởi sản phẩm là đại diện cho thƣơng hiệu của doanh nghiệp, cho sự lớn mạnh hay yếu kém trong lĩnh vực cung cấp mặt hàng cùng công dụng sử dụng.