Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cán bộ, công chức cấp huyện. Chương 2: Thực trạng năng lực cán bộ, công chức tại Ủy ban nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Chương 3:Giải pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức tại Ủy ban nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN 1.
Khái niệm và vai trò của nâng cao năng lực cán bộ công chức cấp huyện 1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp huyện 1. Khái niệm huyện Thế kỉ II trước Công nguyên cho đến ngày nay, đơn vị hành chính cấp huyện vẫn được duy trì. Hiện nay, việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới huyện thuộc thẩm quyền quyết định của Chính phủ.
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân được tổ chức ở mỗi huyện và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện trong từng lĩnh vực được quy định trong Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện thuộc địa bàn hải đảo được giao một số nhiệm vụ, quyền hạn mang tính đặc thù. Huyện là thuật ngữ để chỉ một đơn vị hành chính bậc hai của một quốc gia (đơn vị bậc một là tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương như ở Việt Nam).
Cấp huyện là một thuật ngữ khác được dùng để chỉ các đơn vị hành chính tương đương với huyện gồm có huyện, quận, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Huyện là đơn vị hành chính của Việt Nam ở địa bàn nông thôn, gồm các xã, thị trấn; là bộ phận cấu thành của đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Cán bộ, công chức Khái niệm “cán bộ, công chức” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các hình thức nhân sự thuộc khu vực nhà nước và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Khái niệm “công chức” ở Việt Nam ra đời năm 1950 và cũng được thay đổi qua các thời kỳ gắn với các mốc lịch sử khác nhau.
Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, khái 9 niệm “cán bộ, công chức” được gọi chung cho tất cả những người làm việc cho nhà nước, không có sự phân biệt rõ ràng. Đến nay, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác quản lý đất nước thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế cũng như mục tiêu chương trình CCHC, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, ngày 13/11/2008, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua Luật Cán bộ, công chức - Luật số 22/2008/QH12, quy định. Cán bộ: “Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [31]. Công chức: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ýõng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cõ quan, đõn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà Nước” [31].
Căn cứ Khoản 1 Điều 1 Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019 (có hiệu lực từ 01/07/2020) quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [32]. 10 Phân biệt cán bộ, công chức Bảng 1.1: Phân biệt cán bộ và công chức Tiêu chí Cán bộ Công chức Nguồn gốc Là công dân Việt Nam, được Là công dân Việt Nam, được tuyển bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, giữ chức vụ, chức danh theo chức danh tương ứng với vị trí việc nhiệm kỳ. Nơi làm việc Cơ quan của Đảng Cộng sản Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Việt Nam, Nhà nước, tổ chức Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã chính trị - xã hội ở trung hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; ương, ở tỉnh, thành phố trực trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội thuộc trung ương (sau đây gọi nhân dân mà không phải là sĩ quan, chung là cấp tỉnh), ở huyện, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quận, thị xã, thành phố thuộc quốc phòng; trongcơ quan, đơn vị tỉnh (sau đây gọi chung là cấp thuộc Công an nhân dân mà không huyện). phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an.
Tính chất Làm nhiệm vụ quản lý; nhân Mang tính quyền lực nhà nước, làm công việc danh quyền lực chính trị, nhiệm vụ quản lý, thực hiện công vụ quyền lực công. thường xuyên. Theo nhiệm kỳ. Biên chế và Trong biên chế và hưởng Trong biên chế và hưởng lương từ chế độ lương lương từ ngân sách nhà nước.
ngân sách nhà nước. Thời gian tập Không có. Người được tuyển dụng vào công chức sự phải thực hiện chế độ tập sự theo quy định của Chính phủ. Hình thức kỷ - Khiển trách; - Khiển trách; luật - Cảnh cáo; - Cảnh cáo; - Cách chức; - Hạ bậc lương; - Bãi nhiệm.
- Giáng chức - Cách chức; - Buộc thôi việc. - Hình thức giáng chức, cách chức - Hình thức hạ bậc lương chỉ áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Nguồn: [32] 11 Cán bộ, công chức nói chung được phân loại như sau: - Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân loại: + Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; + Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; + Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; + Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên; + Loại đối với ngạch công chức quy định tại điểm e khoản 1 Điều 42 của Luật này theo quy định của Chính phủ”. - Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại: + Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; + Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
- Phân loại công chức theo trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, chuyên môn đào tạo: Căn cứ vào trình độ chuyên môn được đào tạo của công chức có thể chia thành các loại: Công chức có trình độ trên đại học (tiến sĩ, thạc sĩ); công chức có trình độ đại học, cao đẳng. Trong Luận văn này, thuật ngữ “cán bộ, công chức” khi dùng được hiểu là bao hàm cả ba loại hình cán bộ, công chức: - Cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý: Là người được bổ nhiệm hoặc được bầu ra để giữ một trọng trách (chức vụ) có quyền hạn và trách nhiệm, thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý quy tụ sức mạnh của tập thể để thực hiện mục tiêu chung. - Công chức chuyên môn: Là người có trách nhiệm tham mưu cho cán bộ lãnh đạo quản lý trong thực hiện nhiệm vụ ở lĩnh vực cụ thể. Họ được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước, phát hiện, xử lý kịp thời những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
12 - Công chức (cán sự,nhân viên) trợ giúp:Là những người thực hiện các công việc phục vụ như: Văn thư, quản lý hồ sơ, thu thập và báo cáo các dữ liệu được đảm nhiệm và một số vị trí thư ký khác. Khái niệm năng lực, nâng cao năng lực cán bộ công chức cấp huyện 1. Năng lực cán bộ, công chức Bàn về năng lực, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau, tiêu biểu như: Theo Weinert 2001 thì “Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhân thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sãn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một các thành công và có trách nhiệm các giải pháp trong những tình huống thay đổi”.
Theo OECD, 2002 thì “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hơp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể”. Còn theo từ điển tiếng Việt năm 1988 do Hoàng Phê chủ biên thì: "Năng lực cá nhân là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người có khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” [30, tr. Như vậy hiện nay các quan điểm về năng lực tuy còn khác nhau, nhưng nhìn chung đều cho rằng năng lực là một cấu trúc trìu tượng có tính mở đa thành tố, đa tầng bậc hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà cả giá trị, trách nhiệm, thể hiện ở sự sẵn sàng hành động theo yêu cầu nhất định. Từ các quan điểm trên về năng lực, cho thấy, trí thức, kỹ năng, kỹ xảo là điều kiện cần thiết để hình thành năng lực, song không đồng nhất trí thức, kỹ năng, kỹ xáo với năng lực.
Bởi nếu một cá nhân nào có năng lực là có trí thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực nào đó, nhưng có trí thức, kỹ năng, kỹ xảo thì không có nghĩa là có năng lực trong lĩnh vực ấy.