Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA VAN ĐỀ NGHIÊN CỨU I. KHÁI NIỆM VỀ KỸ NANG: Trước đây khi nói đến kỹ năng người ta nghĩ ngay đến những hoạt động được thực hiện có kết quả thông qua quá trình tập luyện của con người. Mội số tic giả đã nghiên cứu về kỹ năng và đưa ra những quan niệm như sau; -V. S Kudin cho rằng kỹ năng là do tự bản thân con người có sin, không cần phải luyện tập từ trước hay nói cách khác kỹ năng có được là do di truyền.
A Krutetxki cho ring kỹ năng là phương thức thực hiện hoạt động đã được con người nắm vững. Tuy nhiên quan niệm của hai tấc giả này cũng chưa được thỏa đáng. Mội số tác giả khác lại định nghĩa về kỹ năng như sau: -A. G Côvaliốp quan niệm rằng kỹ năng là những phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động.
Kết quả của hành động phu thuộc vào nhiều yếu tố,quan trọng nhất là năng lực của con người. Trong khi đó, theo quan niệm củaN. Ð Levitôp thì kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đấn có tính đến những điều kiện nhất định. Tìm hiểu quá trình hình thành kỹ năng trong thực tế sẽ đưa ra kết luận chính xác khái niệm về kỹ năng và nhận xét được quan niệm nào là đúng đấn hơn cả Thông thường, để hình thành kỹ năng con người phải tiến hành theo hai bước như sau ; -Bước 1: Tìm hiểu và nấm vững các tri thức, hành động hay hoạt động.
-Bước 2: Thực hiện hành động theo các tri thức đó. Muốn hành động được thực hiện có kết quả thì phải có sự tập dượt, quan sát mẫu, làm thử. Hành động càng phức tạp thì sự tập dượt càng phải nhiều,kỹ năng càng ổn định, được vận dụng vào nhiều tình huống khác nhau thì sự tập dượt càng phải kỹ càng đa dang. Do vậy, quan niệm của kỹ năng, theo tôi, được khái quát như sau: lãm AM.
Ludn odn tất aghi¢n -Kỹ năng là khả nâng của con người biết sử dung có muc đích và sáng tạo những kiến thức và kỹ xảo của mình, thực hiện hành đông hay hoạt động nào đó một cách chính xác và đúng đắn bằng cách lưa chọn và vận dung những trì thức, những cách thức thực hiện hành động đúng trong thực tiển. Bất kỳ kỳ năng nào cũng bao hàm trong nó cả biểu tượng, khái niệm, vn tri thức. Do đó khi hình thành kỹ nang thì các biểu tượng, khái niệm, vốn tri thức đã có sé được mở rộng ra,hoàn thiện hơn,sâu sắc hơn. Ngoài ra việc hình thành kỹ năng còn phải bao hầm cả việc thông hiểu mối quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các diéu kiện và cách thức tiến hành hành đông.
Như vậy : kỹ nang chỉ được hình thành và phát triển trong hoạt động của con người. Kỹ năng giúp con người hoạt động có hiệu qủa hơn, thành thạo hơn Để có được kỹ năng, con người phải sử dụng những trí thức và những kinh nghiệm sdn có, tri thức càng vững thì sự hình thành kỹ năng càng dé dàng và nhanh chóng. Ứng với mỗi ngành nghề déu có một số những kỹ nang nhất định. Chẳng hạn, nghé mộc đòi hỏi người công nhân ngoài việc phải có đầu óc thẩm mỹ còn phải có kỹ năng về tay nghề thành thạo, khéo léo.
nghề ca hat phải có kỹ năng về thanh nhạc, khả năng biểu diễn v. tùy theo từng mục đích của nghề nghiệp mà con người có những kỹ năng đặc trưng khác nhau. Đối với nghề sư phạm cũng vậy, do mục đích của nghề này là đào tạo ra những con người có đẩy đủ phẩm chất đạo đức và năng lực, vì vậy đòi hỏi người thẩy giáo phảicó nhữngkỹ năng sư phạm cẩn thiết. Kỹ năng sư phạm bao gồm : kỹ năng giảng dạy, giáo dục và nghiên cứu khoa học giáo dục, trong đó quan trọng nhất là những kỹ năng giảng dạy và giáo dục.
Thông qua hoạt động sư phạm,người giáo viên sử dụng hệ thống những trí thức, kỹ năng, kỹ xảo. để tác động lên học sinh, kinh nghiệm cho thấy những giáo viên dạy giỏi là những người nắm vững các phương pháp, các thủ thuật của hoạt động sư phạm dựa trên cơ sở áp dụng các tri thức về tâm lý, giáo đục, phương pháp giảng day, trong đó nhân cách của giáo viên đóng vai trò quan trọng. Do đó, muốn thực hiện được hệ thống các hoạt động sư phạm có kết quả thì người giáo viên phải biết huy động tất cả các hiểu biết, kinh nghiệm đã tích luỹ, các tri thức thao tác vào hoạt động thực tién và như thế đã bước đầu hình thành được kỹ năng sư phạm, đó cũng là giai đoạn đầu của việc rèn luyện tay nghề sư phạm cho sinh viên. Kỹ năng sư phạm sé trở thành kỹ xảo sư phạm -giúp cho giáo viên có thể ứng xử nhanh chóng trước các tình huống sư phạm xảy ra đột ngột -nếu như ky năng đó được rèn luyên, được luyện tập thường xuyên.
Riêng với sinh Trang 4 ` =5. viên sư pham, thực tế đòi hỏi sinh viên phải không ngừng tích luỹ tri thức, rén luyện các kỹ năng sư phạm đặc biệt là các kỹ năng về giảng day và giáo dục nói chung là các kỹ nang day học. Theo tác giả Nguyễn Như An, kỹ nang day học là hệ thống bao gồm các kỹ năng: -Kỹ năng chuẩn bị bài lên lớp -Kỹ năng giảng day trên lớp -Kỹ năng hướng dẫn các hình thức tổ chức day học -Kỹ năng kiểm tra đánh giá kết quả dạy học Người giáo viên ngoài nhiệm vụ giảng bài, truyền đạt kiến thức mới còn phải hướng dẫn cho học sinh cách ghi nhớ tài liệu, cách hệ thống kiến thức, cách làm bài tập, Ôn tập.Muốn thế giáo viên phải tự vạch ra cho mình một kế hoạch sử dụng bài tập hợp lý, dim bảo phương pháp day học được toàn n. BÀI TẬP HÓA HỌC : 1.
Khái niệm về bài tập hóa học : Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt -1992 (trang 40, 41) đã định nghĩa bài tập như sau : bài đập la những bài ra cho học sinh để tập vận dụng những điều đã học.Người giáo viên sau khi truyền thụ kiến thức mới cho học sinh và chỉ thấy an tâm khi học sinh có thể giải được các bài tập mà mình đưa ra. Bài tập hóa học có thể là một câu hỏi đơn giản không cẩn tính toán nhưng cũng có khi là một bài toán tổng hợp đòi hỏi học sinh phải vận dụng cả kiến thức toán học lẫn hóa học mới giải được.Những bài tập nay học sinh có thể tự giải được nhưng cũng có khi phải có sự hướng dẫn của giáo viên. Nội dung của bài tập hóa học phải chứa đựng các kiến thức trọng tâm của bài giảng những kiến thức đó có khi được nói rõ trong để của bài tập và chỉ yêu cầu học sinh kiểm định lại (dạng bài tập trắc nghiệm) nhưng cũng có khi chỉ là những câu gợi ý nhỏ bất buột hoc sinh phải suy luận đựa trên những kiến thức vừa học được.Tuỳ theo mục đích sử dụng mà bài tập được xây đựng đưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau. Tác dụng của bài tập hóa học : Giáo viên bằng nhiều cách có thể kiểm tra trình độ tiếp nhận kiến thức của học sinh.Một trong những phương pháp được xem là tích cực nhất đó là thông qua việc ra các bài tập cho học sinh làm bởi vì bài tập hóa học có các tác dung lớn sau: -Lam rô và khắc sâu kiến thức đã học: Bài tập giúp học sinh nhớ lại các tính chất của các chất, các phương trình phản ứng xảy ra,hiểu sâu hon về các nguyên lý và định luật hóa học,những 5 rang -“Cuậm vdn tất nghitp kiến thức chưa được vững,chưa được nắm kỳ thông qua việc giải bài tập sẽ giúp học sinh hiểu sâu hdnva nhớ lâu hơn.
Ngoài ra, giải bài tập hóa học cũng giúp hoc sinh ôn tập các kiến thức về các môn khác như: toán, lý, sinh. Thí du : Sau khi day cho học sinh khái niệm về hóa hoc hữu cơ, giáo viên ra bài tập như sau: Có một day nguyên tố hóa học: H, He, Li, Be, B,C, N, O, F, Ne. Trong phân tử hợp chất hữu cơ nhất thiết phải có nguyên tố nào ? Có thể có nguyên tố nào ? Thường xuyên có nguyên tố nào ? Để giải bài tập này, học sinh buộc phải nhớ lại một số đặc điểm chung của các hợp chất hữu cơ và như thế kiến thức này được khấc sâu và nhớ lâu hơn. -Hệ thống hóa kiến thức : Phin lớn bài tập đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp các kiến thức của nhiều phan trong bài hoặc kiến thức của bài trước và bài sau.
Tự mình làm các bài tập sẽ giúp học sinh củng cố kiến thức cũ một cách thường xuyên. đối với dạng bài tập tổng hợp này buộc học sinh phải huy động vốn hiểu biết của nhiều chương, nhiều bộ môn. Thí dụ: Học sinh đã được học về các phương pháp để lập công thức phân tử của các hợp chất hữu cơ trong chương Đại cương về hóa hữu cơ, Giáo viên ra bài tập sau: Oxi hóa hoàn toàn 1,5g chất hữu cơ A không có nitơ, sản phẩm sinh ra được dẫn qua bình I đựng CaCl, khan và bình II đựng KOH dd, khối lượng bình I tăng lên 2,7g; bình II tăng lên 4,4g. Chất hữu cơ có Oxi không? Xác định %khối lượng các nguyên tố.
Lập công thức nguyên. Suy ra công thức phân tử nếu daz;;= 15. Khi giải bài toán này, học sinh bắt buộc phải nấm được kiến thức về các chất vô cơ như : CO; bị hấp thu bởi KOH dd, CaCl, khan thì hấp thu khí CO; Vận dụng kiến thức học sinh vừa mới học trong chương để lập công thức nguyên, công thức phân tử. ngoài ra còn đòi hỏi học sinh phải có khả năng tính toán tốt.
-Cung cấp thêm kiến thức mới: Một số bài tập ngoài nhiệm vụ củng cố kiến thức đã học còn mở rộng sự hiểu biết của học sinh một cách sinh động, phong phú vé các vấn để thực tiễn đời sống và sản xuất. Chẳng han giáo viên ra bài tập cho học sinh làm như sau: Viết phương trình điểu chế cao su Butadien từ gỗ. Nếu giả thiết hiệu suất của mỗi phan ứng là 60%, tính lượng gỗ cẩn để sản xuất | tấn cao su ?