Chương 1: Cơ sở lý luận về tiếp cận dịch vụ tài chính vi mô của ngƣời nghèo; Chương 2: Thực trạng tiếp cận dịch vụ tài chính vi mô của ngƣời nghèo trên địa bàn Tỉnh Phú Thọ; Chương 3: Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính vi mô cho cho ngƣời nghèo trên địa bàn Tỉnh Phú Thọ. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIẾP CẬN DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA NGƢỜI NGHÈO 1. Những vấn đề chung về tài chính vi mô 1. Khái niệm về tài chính vi mô Tài chính vi mô là một dạng của dịch vụ tài chính, liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản nhƣ tín dụng, các khoản tiết kiệm, hợp đồng cho thuê, cung cấp tài chính hợp lý, cơ chế bảo hiểm và gửi tiền qua ngân hàng, các tổ chức phi chính phủ, các hợp tác tín dụng và tiết kiệm cả ở 2 lĩnh vực tài chính chính thức và phi chính thức (Nguyễn Kim Anh, 2014, trang 12).
Dịch vụ này cung cấp chủ yếu cho những ngƣời thất nghiệp hoặc thu nhập thấp, ngƣời nghèo những ngƣời không đƣợc sử dụng dịch vụ tài chính chính thức. Mục đích cao nhất của tài chính vi mô là tạo cho ngƣời thu nhập thấp một cơ hội cải thiện bằng cách cung cấp cho họ một phƣơng thức tiết kiệm, vay tiền và dịch vụ bảo hiểm. Tài chính vi mô đƣợc sử dụng nhƣ là một công cụ nâng cao năng lực cho phép ngƣời nghèo trực tiếp quyết định làm thế nào tốt nhất để nâng cao mức sống cho gia đình và những cách thức để tiến hành những hoạt động thu nhập. Theo ngân hàng Grameen của Bangladesh, tài chính vi mô hay tín dụng vi mô là những khoản tín dụng nhỏ không thế chấp cung cấp cho ngƣời nghèo vì mục đích phát triển kinh tế và xã hội của ngƣời nghèo có điều kiện sống dƣới mức nghèo của quốc gia.
Cụ thể hơn, tín dụng vi mô là những khoản tiền nhỏ và dịch vụ tài chính khác (nhƣ tiết kiệm, cho vay sửa nhà.) cung cấp cho ngƣời nghèo nhất trong số nghèo. Những dịch vụ này cung cấp cho ngƣời nghèo khi họ minh chứng rằng có thể tự vƣơn lên bằng sức lao động chân chính để thoát khỏi sự nghèo đói thông qua các hoạt động tự tạo việc làm để tăng thu nhập, nâng mức sống của bản thân và gia đình họ (Nguyễn Kim Anh, 2014). Theo ngân hàng phát triển châu Á (ADB), tài chính vi mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính nhƣ: tiền gửi, các khoản vay, dịch vụ thanh toán, bảo hiểm chuyển tiền cho ngƣời nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp, những hoạt 10 động kinh doanh các thể hoặc các doanh nghiệp rất nhỏ. Các định chế tài chính vi mô đƣợc hiểu là các tổ chức hoạt động chủ yếu về tài chính vi mô.
Theo Nghị định số 28/2005/NĐ - CP ngày 9/3/2005 và Nghị định số 165/2007/NĐ - CP ngày 15/11/2007: + Tài chính quy mô nhỏ: Là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và ngƣời nghèo. + Dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản gồm: Tín dụng quy mô nhỏ, có hoặc không có tài sản bảo đảm đối với các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp để sử dụng vào các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện điều kiện sống. + Khách hàng tài chính quy mô nhỏ: là các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp thoả mãn các tiêu chí theo quy định của tổ chức tài chính quy mô nhỏ trên cơ sở tham khảo theo chuẩn nghèo của Thủ tƣớng Chính phủ. Khách hàng tài chính quy mô nhỏ có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và quy định của tổ chức tài chính quy mô nhỏ.
Theo các tài liệu nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế, cũng nhƣ thực tiễn hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam trong thời gian qua, có thể hiểu rằng “tài chính vi mô là các dịch vụ tín dụng, tiết kiệm quy mô nhỏ và các dịch vụ tài chính cơ bản khác đƣợc cung cấp cho cộng đồng dân cƣ có thu nhập thấp, đặc biệt là ngƣời nghèo” 1. Tổ chức TCVM TCVM đƣợc coi là phƣơng pháp phát triển kinh tế cho nhóm dân cƣ có thu nhập thấp, là một trong những công cụ hiệu quả trong xóa đói giảm nghèo. Ngoài việc cung cấp dịch vụ tài chính, TCVM, còn cung cấp cả các dịch vụ trung gian xã hội. Mặt khác, nó không chỉ cung cấp các dịch vụ đến các khách hàng cá thể, mà nó còn cung cấp cả các dịch vụ cho các doanh nghiệp nhỏ.
Có các cách diễn đạt khác 11 nhau về TCVM nhƣ đƣợc đề cập dƣới đây: “TCVM là việc cung cấp dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo, bao gồm: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm…” – tổ chức CGAP (Nguyễn Kim Anh, 2014). “TCVM là việc cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính như nhận tiền gửi, cung ứng khoản vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ” – Tổ chức ADB (Nguyễn Văn Chiến & Nguyễn Văn Du, 2013). “TCVM bao gồm cả trung gian về mặt tài chính và trung gian xã hội, có nghĩa là TCVM không chỉ đơn thuần là công cụ ngân hàng mà còn là công cụ phát triển” – Tác giả Joanna Ledgerwood (Nguyễn Văn Chiến & Nguyễn Văn Du, 2013). Theo Chƣơng trình Môi trƣờng Liên Hợp quốc (UNEP): “Tổ chức TCVM đƣợc hiểu là một tổ chức cung cấp các dịch vụ tài chính và mục tiêu hƣớng đến là ngƣời nghèo, ngƣời có thu nhập thấp.
Tuy có nhiều loại tổ chức TCVM khác nhau nhƣng các tổ chức này vẫn có một đặc điểm chung là cung cấp dịch vụ tài chính đến phân khúc nghèo trong xã hội nơi mà các ngân hàng truyền thống thƣờng bỏ ngỏ” (Đặng Thu Thủy, 2017). Thuật ngữ TCVM cũng đƣợc đề cập tƣơng đối phổ biến ở Việt Nam, Nghị định 28/2005/NĐ-CP, đã dùng một khái niệm khác thay thế cho thuật ngữ này, đó là tài chính quy mô nhỏ và nó đƣợc định nghĩa “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo”. Khái niệm TCVM còn đƣợc đề cập tại Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, điểm 5, điều 4: “Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”.1 Phân loại nhóm tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam Khu vực chính thức Khu vực bán chính thức Khu vực phi chính thức - Ngân hàng nông nghiệp và - Tổ chức phi chính phủ - Họ/ hụi (một hình thức phát triển nông thôn Việt quốc tế (quỹ cứu trợ trẻ em phổ biến của tiết kiệm và Nam Mỹ, Tổ chức tầm nhìn thế quay vòng vốn) - Ngân hàng chính sách xã giới.) - Vay mƣợn từ họ hàng, hội Việt Nam - Các tổ chức tài chính vi mô bạn bè, hàng xóm láng (NHCSXHVN) đƣợc chính phủ công nhận. - Các Quỹ tín dụng nhân dân + Quỹ trợ vốn cho ngƣời - Vay mƣợn từ ngƣời cho (QTDND) nghèo tự tạo việc (CEP) vay nặng lãi - Công ty tài chính, Dịch vụ + Trung tâm phát triển vì tiết kiệm Bƣu điện Việt Nam ngƣời nghèo (PPC) Nguồn: Nguyễn Kim Anh, 2014 Về khía cạnh tài chính, thông qua quá trình cung cấp các dịch vụ tài chính, các tổ chức TCVM thực hiện các chức năng quan trọng là (i) huy động tiết kiệm; (ii) tái phân bổ tiết kiệm cho đầu tƣ, và (iii) tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi thƣơng mại hàng hóa và dịch vụ, trở thành một công cụ đắc lực để giảm nghèo đói và tăng thu nhập.
Về khía cạnh xã hội, các tổ chức TCVM tạo cơ hội cho ngƣời dân - nhất là ngƣời nghèo - tiếp cận đƣợc với dịch vụ tài chính, khuyến khích khách hàng tham gia vào cuộc sống cộng đồng và tăng cƣờng năng lực xã hội của họ. Nói một cách cơ bản, các tổ chức TCVM thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ: trung gian tài chính và trung gian xã hộị. Các dịch vụ tài chính vi mô chủ yếu 1. Tín dụng vi mô Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa ngƣời cho vay và ngƣời vay.
Trong quan hệ này, ngƣời cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho ngƣời đi vay trong một thời gian nhất định. Ngƣời đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. Tín dụng có vị trí quan trọng đối với việc tập trung tận dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh doanh. Đối với tổ chức TCVM, tín dụng thƣờng là các khoản vay có giá trị nhỏ 13 nhằm mục đích hỗ trợ cho ngƣời lao động nghèo phát triển kinh tế - xã hội của bản thân.
Việc phân tích, thẩm định khách hàng của tổ chức TCVM về nguyên lý vẫn theo các khung phân tích chung. Tuy vậy, do khách hàng thuộc khu vực tài chính vi mô có những đặc trƣng riêng nên một số tiêu chuẩn đánh giá khách hàng đã đƣợc điều chỉnh cho phù hợp. Các phƣơng pháp đánh giá cho phƣơng án vay vốn nhƣ NPV, IRR,. thì không phù hợp với khách hàng của tổ chức tài chính vi mô vì khách hàng không có hệ thống báo cáo tài chính đầy đủ khoa học nhƣ các doanh nghiệp.
Các đánh giá tài sản đảm bảo truyền thống cũng không thể ứng dụng hoàn toàn cho khách hàng của tổ chức TCVM. Có nhiều phân loại về phƣơng thức cấp tín dụng: Theo khách hàng (cá nhân, hộ gia đình, nhóm, doanh nghiệp, tổ chức), theo đối tƣợng (công nhân viên, nhân dân lao động, tiểu thƣơng, hộ sản xuất nhỏ), theo thời hạn (ngắn hạn, trung và dài hạn), theo loại tài sản bảo đảm (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, tín chấp). Do những ƣu và nhƣợc điểm của từng phƣơng thức tín dụng mà các tổ chức TCVM tùy thuộc vào điều kiện và khả năng của mình mà áp dụng phƣơng thức đó.