Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong ngành chăn nuôi gia súc tại Việt Nam, chăn nuôi lợn nái sinh sản giữ vai trò then chốt trong việc tạo nguồn con giống thương phẩm có tốc độ sinh trưởng nhanh và tỷ lệ nạc cao. Tuy nhiên, cùng với xu hướng chăn nuôi thâm canh tập trung, vấn đề dịch bệnh sinh sản ở lợn nái (đặc biệt là hội chứng viêm tử cung, viêm vú, sảy thai và bệnh chậm sinh) diễn ra khá phổ biến. Các rối loạn sinh sản này bắt nguồn từ sự kém thích nghi của các giống lợn ngoại nhập đối với điều kiện tiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, kết hợp với các bất cập trong quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh thú y, từ đó làm giảm sút nghiêm trọng năng suất sinh sản và hiệu quả kinh tế của các trang trại.

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Trần Mạnh Huỳnh đã thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp: "Nghiên cứu sử dụng kích dục tố để nâng cao khả năng sinh sản và điều trị bệnh chậm sinh ở lợn nái nuôi tại Công ty CP Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội" dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Quốc Tuấn và ThS. Phạm Thị Trang (Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên).

Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể trong văn bản như sau:

  • Mục đích của đề tài:
    1. Đánh giá tình hình sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại Công ty Cổ phần Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
    2. Sử dụng thuốc kích dục tố (Gona-estrol và PG600) nhằm kích thích khả năng sinh sản đối với những lợn nái có biểu hiện chậm sinh.
  • Mục tiêu của đề tài:
    1. Xác định tỷ lệ lợn nái có biểu hiện chậm sinh trên đàn nái của trại.
    2. Xác định tỷ lệ lợn nái loại thải do mắc bệnh chậm sinh tại cơ sở.
    3. Đánh giá hiệu lực của hai loại thuốc kích dục tố (Gona-estrol và PG600) trong điều trị đối với gia súc có biểu hiện chậm sinh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái ngoại sinh sản và lợn nái hậu bị có biểu hiện chậm sinh nuôi tại trang trại; đàn lợn con theo mẹ; lợn đực giống khai thác tinh (giống Pietrain và Duroc).
  • Phạm vi không gian: Trang trại chăn nuôi lợn gia công quy mô 1.200 nái cơ bản của Công ty CP Bình Minh (thuộc hệ thống gia công của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam), đặt tại thôn Trung, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu điều tra cơ bản và năng suất đàn giai đoạn 2012 – 2014; theo dõi thực nghiệm lâm sàng từ tháng 6/2014 đến tháng 10/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết sinh lý học và dược lý học sinh sản

Hoạt động sinh sản của lợn nái là quá trình sinh học phức tạp chịu sự điều khiển thống nhất của hệ thống thần kinh - thể dịch thông qua trục nội tiết: Vùng dưới đồi (Hypothalamus) – Tuyến yên (Pituitary) – Buồng trứng (Ovary).

  • Vùng dưới đồi: Tiết các hormone giải phóng kích dục tố gồm FRF (Follicle Releasing Factor) và LRF (Luteinizing Releasing Factor) đổ vào hệ tuần hoàn cửa để kích thích thùy trước tuyến yên.
  • Thùy trước tuyến yên: Tiết ra hai kích dục tố chính là FSH (Follicle Stimulating Hormone - kích noãn bào tố, bản chất glycoprotein có khối lượng phân tử 25.000 – 30.000 Da) giúp kích thích nang noãn phát triển và chín; và LH (Luteinizing Hormone - kích hoàng thể tố, khối lượng phân tử 25.000 – 40.000 Da) phối hợp với FSH làm vỡ bao noãn để rụng trứng và hình thành thể vàng.
  • Buồng trứng: Dưới tác động của FSH và LH, buồng trứng tiết Oestrogen (chủ yếu là 17β-Oestradiol) tạo xung huyết đường sinh dục và biểu hiện động dục lâm sàng ("mê ì"); sau khi rụng trứng, thể vàng tiết Progesteron chuẩn bị niêm mạc tử cung cho phôi làm tổ và ức chế tuyến yên tiết FSH/LH.

Theo văn bản, hiện tượng chậm sinh ở lợn nái được xác định qua 3 trường hợp: (1) Lợn hậu bị >8 tháng tuổi, khối lượng >100 – 110 kg chưa có biểu hiện động dục lần đầu; (2) Lợn nái sau cai sữa tách con >10 ngày không động dục trở lại; (3) Lợn hậu bị hoặc nái rạ phối giống từ 2 – 3 chu kỳ nhưng không đậu thai. Nguyên nhân chủ yếu do rối loạn trục nội tiết (thiếu hụt FSH/LH, tỷ lệ LH/FSH không đạt ngưỡng 3/1, tồn lưu thể vàng, u nang buồng trứng) hoặc do các yếu tố ngoại cảnh như khẩu phần mất cân đối protein, thiếu khoáng vi lượng (Ca, P, Mn, Zn), béo thừa do tinh bột, stress nhiệt và viêm nhiễm đường sinh dục.

Hai chế phẩm kích dục tố được đưa vào thử nghiệm điều trị gồm:

  1. Gona-estrol (do Công ty Cổ phần Dược và Vật tư Thú y sản xuất): Dạng dung dịch tiêm lọ 8 ml, thành phần chứa 600 IU Chorionic Gonadotropin (HCG), 4 mg Oestradiol benzoat và 60 mg Alpha-tocopherol acetate (Vitamin E).
  2. PG600 (do Intervet sản xuất): Dạng đông khô kết hợp gồm 400 IU Pregnant Mare Serum Gonadotropin (PMSG - huyết thanh ngựa chửa có hoạt tính tương tự FSH) và 200 IU Human Chorionic Gonadotropin (HCG có hoạt tính tương tự LH).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp hồi cứu số liệu: Thu thập, thống kê số liệu sổ sách lưu trữ của trang trại giai đoạn 2012 – 2014 về cơ cấu đàn, năng suất sinh sản (số lứa/năm, số con sơ sinh/lứa, số con cai sữa/lứa) và tỷ lệ loại thải.
  • Phương pháp lâm sàng: Khám lâm sàng cơ quan sinh dục ngoài, theo dõi triệu chứng thần kinh, thử phản xạ đứng im (chịu đực) khi tiếp xúc lợn đực thí điểm vào các khung giờ cố định (10 – 11 giờ trưa).
  • Phương pháp bố trí thực nghiệm so sánh: Chọn các lợn nái có biểu hiện chậm sinh tại trại, chia lô để tiến hành tiêm đối chứng hai loại thuốc kích dục tố (Gona-estrol và PG600) theo đúng liều lượng chỉ dẫn của nhà sản xuất.
  • Phương pháp thụ tinh nhân tạo: Thực hiện kỹ thuật phối giống 3 lần/kỳ động dục bằng tinh dịch pha loãng của lợn đực Pietrain và Duroc (thể tích 80 – 100 ml, mật độ 1,5 – 2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng/liều).
  • Phương pháp hạch toán kinh tế: Tính toán chi phí thuốc sử dụng trên từng đầu con điều trị để so sánh hiệu quả kinh tế giữa hai phác đồ.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu khí tượng, kinh tế - xã hội do UBND xã Phù Lưu Tế cung cấp; sổ sách kỹ thuật của Công ty CP Bình Minh; số liệu theo dõi trực tiếp của tác giả trong đợt thực tập.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục khóa luận gồm hai phần chính: Công tác phục vụ sản xuất tại cơ sở và Chuyên đề nghiên cứu khoa học.

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

1. Điều tra cơ bản về địa bàn và cơ sở thực tập

  • Xã Phù Lưu Tế (huyện Mỹ Đức, Hà Nội): Diện tích tự nhiên 6,71 km² (671 ha), trong đó đất nông nghiệp chiếm 47,45% (318,37 ha). Dân số năm 2014 là 9.162 người, tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm 59% (78,9% lao động chưa qua đào tạo chuyên môn). Cơ cấu trồng trọt năm 2013: lúa đạt 362 ha (năng suất 7,84 tấn/ha, sản lượng 2.838 tấn); diện tích ngô giảm, thay thế bằng lạc, khoai tây, rau màu. Chăn nuôi toàn xã năm 2014 có 109 con trâu, 216 con bò, trên 13.000 con lợn và trên 58.000 con gia cầm.
  • Công ty CP Bình Minh: Thành lập năm 2008 theo mô hình liên doanh nuôi lợn gia công với Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam (CP Việt Nam), do ông Nguyễn Sĩ Bình làm chủ trại. Cơ cấu nhân sự gồm 1 chủ trại, 1 quản lý trại, 2 quản lý kỹ thuật và 26 công nhân. Tổng diện tích mặt bằng 10,2 ha (đất xây dựng chuồng trại 2,5 ha, cây ăn quả 2,3 ha, trồng lúa 2,4 ha, mặt nước nuôi cá 3,0 ha). Hệ thống chuồng trại khép kín cho 1.200 nái cơ bản gồm: 6 chuồng đẻ (56 ô/chuồng), 2 chuồng nái chửa (560 ô/chuồng), 3 chuồng cách ly, 1 chuồng nuôi 24 lợn đực giống (Pietrain, Duroc), hệ thống giàn mát và quạt thông gió công nghiệp, phòng pha tinh nhân tạo trang bị máy đếm tinh trùng và kính hiển vi quang học.

2. Kết quả công tác chăn nuôi và thú y phục vụ sản xuất

  • Chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn: Áp dụng định ngạch thức ăn CP theo chu kỳ sinh lý:
    • Nái chửa tuần 1 – 12: thức ăn CP 566, khẩu phần 1,5 – 2,0 kg/con/ngày (1 bữa/ngày).
    • Nái chửa tuần 13 – 14: thức ăn CP 566, khẩu phần 2,5 – 3,0 kg/con/ngày.
    • Nái chửa từ tuần 15: thức ăn CP 567SF, khẩu phần 3,5 – 4,0 kg/con/ngày.
    • Nái đẻ: giảm thức ăn trước đẻ 3 ngày (0,5 kg/bữa); sau đẻ 2 ngày tăng dần lên 0,5 – 5,0 kg/ngày (tối đa 6,0 kg/ngày đối với nái nuôi đông con). Lợn con tập ăn sớm ở 4 – 6 ngày tuổi bằng thức ăn 550SF và cai sữa lúc 21 – 26 ngày tuổi.
  • Công tác vệ sinh, sát trùng: Phun sát trùng chuồng trại định kỳ 2 lần/ngày bằng Ommicide (tỷ lệ 320 ml/1.000 lít nước); ngâm tấm đan chuồng đẻ bằng dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày, rửa khung chuồng bằng vôi xút và rắc vôi bột tiêu độc gầm chuồng.
  • Công tác phòng trị bệnh: Tiêm phòng 100% các loại vaccine định kỳ: Parvo (khô thai lúc 25, 29 tuần tuổi cho hậu bị), Coglapest (dịch tả lợn), Begonia (giả dại tiêm tháng 4, 8, 12), Aftopor (LMLM).
  • Kết quả điều trị bệnh lâm sàng:
    • Bệnh viêm tử cung nái (phác đồ Oxytocin 3 – 5 ml + Analgin 1 ml/10 kg thể trọng + Vetrimoxin 1 ml/10 kg thể trọng điều trị 3 – 6 ngày): Điều trị khỏi 42/51 con (đạt 82,4%).
    • Bệnh phân trắng lợn con (dùng Nova-Ampicol 2 g/lít nước trong 3 – 4 ngày): Điều trị khỏi 332/348 con (đạt 95,4%).
    • Bệnh viêm phổi lợn con do Mycoplasma hyopneumoniae (dùng kết hợp Tylogenta 1,5 ml/con tiêm bắp hàng ngày + Vetrimoxin 1,5 ml/con tiêm cách nhật 2 ngày/lần trong 3 – 6 ngày): Điều trị khỏi 244/254 con (đạt 96,06%).
    • Các thao tác kỹ thuật thực hiện: Đỡ đẻ 72 lợn nái; thụ tinh nhân tạo 350 lượt nái; tiêm sắt (Dextran-Fe + B12) cho 120 lợn con; thiến 73 lợn đực con; xuất bán 2.500 lợn con cai sữa (tỷ lệ an toàn đạt 100%).

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Chuyên đề tập trung đánh giá thực trạng chậm sinh và khảo nghiệm hiệu lực của hai chế phẩm kích dục tố Gona-estrol và PG600:

  1. Năng suất sinh sản của đàn nái tại trại (2012 – 2014): Đàn nái của Công ty CP Bình Minh đạt mức sản xuất trung bình từ 2,40 đến 2,45 lứa/năm; số con sơ sinh bình quân đạt 11,21 con/đàn; số con nuôi sống đến cai sữa đạt 9,86 con/đàn.
  2. Khảo sát tỷ lệ chậm sinh và loại thải: Tác giả thực hiện thống kê tỷ lệ lợn nái có biểu hiện chậm sinh trong các tháng 6/2014 và 7/2014, đồng thời xác định tỷ lệ nái phải loại thải do không còn khả năng phục hồi chức năng sinh sản trong giai đoạn từ tháng 6/2014 đến tháng 10/2014.
  3. Hiệu quả gây động dục và các chỉ tiêu sinh sản sau can thiệp kích dục tố:
    • So sánh tỷ lệ gây động dục thành công giữa nhóm tiêm Gona-estrol và nhóm tiêm PG600 trên đàn lợn nái chậm sinh.
    • Đo lường thời gian xuất hiện động dục (số ngày sau tiêm) và thời gian kéo dài trạng thái động dục lâm sàng của từng loại thuốc.
    • Đánh giá mức độ động dục tập trung của đàn nái sau khi xử lý thuốc qua biểu đồ phân bố thời gian.
    • Thống kê kết quả phối giống (tỷ lệ thụ thai ở chu kỳ đầu tiên) và kết quả sinh đẻ lứa kế tiếp (số con sơ sinh/ổ, số con còn sống).
  4. Hạch toán chi phí và theo dõi phản ứng thuốc: Tính toán chi phí thuốc thú y trên mỗi đầu lợn điều trị thành công đối với Gona-estrol so với PG600; ghi nhận các phản ứng quá mẫn, sốc thuốc hoặc tác dụng phụ bất lợi trên cơ thể lợn nái sau khi tiêm.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính của nghiên cứu

Nhóm chỉ tiêu Nội dung và thông số kỹ thuật ghi nhận trong văn bản
Năng suất sinh sản cơ sở - Số lứa đẻ/nái/năm: 2,40 – 2,45 lứa.
- Số con sơ sinh: 11,21 con/đàn; số con cai sữa: 9,86 con/đàn.
- Tuổi cai sữa: 21 – 26 ngày tuổi.
Điều trị bệnh lâm sàng - Viêm tử cung nái: Điều trị 51 ca, khỏi 42 ca (tỷ lệ 82,4%).
- Phân trắng lợn con: Điều trị 348 ca, khỏi 332 ca (tỷ lệ 95,4%).
- Viêm phổi (Mycoplasma): Điều trị 254 ca, khỏi 244 ca (tỷ lệ 96,06%).
Các thao tác dịch vụ kỹ thuật - Thụ tinh nhân tạo: 350 con (an toàn 100%).
- Đỡ đẻ: 72 con nái.
- Tiêm sắt Dextran-Fe: 120 con; Thiến lợn đực: 73 con; Xuất lợn con: 2.500 con.
Hiệu quả chuyên đề kích dục tố - Đã xác định được tỷ lệ chậm sinh và tỷ lệ loại thải thực tế tại trại.
- Làm rõ sự khác biệt giữa hai chế phẩm Gona-estrol và PG600 về tỷ lệ gây động dục, thời gian xuất hiện động dục trở lại, mức độ động dục tập trung và kết quả thụ thai.
- Đưa ra bảng hạch toán chi phí điều trị cụ thể giữa thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu.

Đề xuất và giải pháp của tác giả

Dựa trên kết quả thực tập và nghiên cứu thực địa, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật:

  1. Nâng cao năng lực chuyên môn cho công nhân trong khâu phát hiện sớm triệu chứng động dục và phát hiện lợn ốm; cách ly và can thiệp điều trị kịp thời; siết chặt quy trình sát trùng cá nhân trước khi vào chuồng.
  2. Đảm bảo cung cấp đầy đủ nước uống sạch cho đàn lợn, đặc biệt trong các đợt nắng nóng gay gắt mùa hè nhằm hạn chế hiện tượng thiểu năng buồng trứng do stress nhiệt.
  3. Đầu tư thay thế định kỳ các trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi, sàn đan đã cũ hỏng để nâng cao năng suất lao động và hạn chế chấn thương cơ học cho vật nuôi.
  4. Duy trì nghiêm ngặt lịch phòng bệnh bằng vaccine và quy trình tiêu độc khử trùng toàn trại bằng vôi xút, xút 10% và Ommicide.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp các dữ liệu thực nghiệm so sánh đối chứng trực tiếp giữa hai biệt dược kích dục tố phổ biến (Gona-estrol và PG600) trong điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp khép kín tại khu vực Đồng bằng Bắc Bộ. Đề tài chứng minh tính khả thi của việc sử dụng hormone ngoại sinh để khôi phục chu kỳ sinh sản, giảm tỷ lệ loại thải nái vô sinh cục bộ và tối ưu hóa chi phí thuốc thú y tại trang trại quy mô lớn.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian thực tập tốt nghiệp có giới hạn (theo dõi thực nghiệm trong 5 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10/2014) và tập trung tại một cơ sở chăn nuôi duy nhất (Công ty CP Bình Minh). Do điều kiện thực địa trang trại, tác giả chưa tiến hành định lượng nồng độ hormone nội sinh trong máu (FSH, LH, Progesteron) bằng các xét nghiệm sinh hóa chuyên sâu trước và sau can thiệp thuốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi hiệu lực của thuốc kích dục tố trên các lứa đẻ tiếp theo của đàn nái đã phục hồi; mở rộng khảo nghiệm trên các giống lợn và lứa tuổi nái khác nhau; kết hợp siêu âm kiểm tra thực thể buồng trứng nhằm phân loại chính xác các thể bệnh chậm sinh (thể vàng tồn lưu, buồng trứng teo hoặc u nang) để xây dựng phác đồ phối hợp hormone tối ưu nhất.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên đại học và cao học ngành Chăn nuôi, Thú y, Chăn nuôi – Thú y, cũng như đội ngũ kỹ thuật viên quản lý trại lợn giống:

  • Quy trình kỹ thuật thụ tinh nhân tạo: Cung cấp hướng dẫn chi tiết 6 bước từ khâu chuẩn bị dụng cụ, kiểm tra hoạt lực tinh dịch, vệ sinh nái, thao tác kích thích cơ học 5 phút đến kỹ thuật đưa dẫn tinh quản xoay ngược chiều kim đồng hồ và cố định cổ tử cung.
  • Phác đồ phòng và trị bệnh thực địa: Cung cấp bảng lịch phòng vaccine cụ thể theo tuần tuổi cho từng nhóm lợn (lợn con, hậu bị, nái mang thai, đực giống) cùng các phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung, phân trắng và viêm phổi đạt tỷ lệ khỏi trên 82% – 96%.
  • Dữ liệu ứng dụng kích dục tố: Cung cấp cơ sở khoa học và định mức chi phí thực tế khi lựa chọn giữa thuốc Gona-estrol nội địa và PG600 nhập khẩu trong việc can thiệp sinh sản cho đàn lợn nái.

Câu hỏi thường gặp

1. Thành phần hoạt chất và đơn vị sản xuất của hai loại thuốc kích dục tố Gona-estrol và PG600 trong khóa luận là gì?

  • Gona-estrol (do Công ty Cổ phần Dược và Vật tư Thú y sản xuất): Mỗi lọ 8 ml chứa 600 IU Chorionic Gonadotropin (HCG), 4 mg Oestradiol benzoat và 60 mg Alpha-tocopherol acetate.
  • PG600 (do Intervet sản xuất): Chứa hỗn hợp gồm 400 IU PMSG (Pregnant Mare Serum Gonadotropin) và 200 IU HCG (Human Chorionic Gonadotropin).

2. Tiêu chuẩn xác định một cá thể lợn nái bị mắc bệnh chậm sinh trong nghiên cứu gồm những trường hợp nào?
Nghiên cứu quy định 3 trường hợp: (1) Lợn nái hậu bị trên 8 tháng tuổi, khối lượng cơ thể đạt >100 – 110 kg nhưng không có biểu hiện động dục lần đầu; (2) Lợn nái sinh sản sau khi cai sữa tách con trên 10 ngày không thấy xuất hiện động dục trở lại; (3) Lợn hậu bị hoặc nái sinh sản có xuất hiện động dục nhưng phối giống 2 – 3 chu kỳ liên tiếp không thụ thai.

3. Quy trình thụ tinh nhân tạo cho lợn nái tại trang trại Công ty CP Bình Minh gồm các bước kỹ thuật nào?
Quy trình gồm 6 bước:

  • Bước 1: Quan sát triệu chứng động dục và xác định thời điểm dẫn tinh thích hợp (khi nái đạt trạng thái "mê ì").
  • Bước 2: Chuẩn bị dụng cụ (vòi dẫn tinh quản, panh, bông tẩm nước muối sinh lý).
  • Bước 3: Chuẩn bị liều tinh dịch 80 – 100 ml, mật độ 1,5 – 2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng đã kiểm tra hoạt lực.
  • Bước 4: Vệ sinh cơ quan sinh dục ngoài bằng bông nước muối sinh lý và lau khô.
  • Bước 5: Cưỡi lưng/vuốt hông nái 5 phút; bôi trơn đầu dẫn tinh quản, đưa vào âm đạo xoay ngược chiều kim đồng hồ khi kịch rút ra 2 cm; lắp lọ tinh cho chảy vào; giữ lưu vòi 5 phút; rút nhẹ vòi xoay theo chiều kim đồng hồ và vỗ mạnh vào lưng nái để đóng cổ tử cung.
  • Bước 6: Vệ sinh dụng cụ; ghi chép thẻ nái (phối 3 lần/chu kỳ) và theo dõi kết quả sau 21 – 25 ngày.

4. Khẩu phần ăn của lợn nái chửa tại cơ sở thực tập được phân chia theo các giai đoạn nào?
Lợn nái chửa được cho ăn theo 3 giai đoạn:

  • Từ tuần chửa 1 đến tuần 12: Ăn thức ăn CP 566 với định mức 1,5 – 2,0 kg/con/ngày (cho ăn 1 lần/ngày).
  • Từ tuần chửa 13 đến tuần 14: Ăn thức ăn CP 566 với định mức 2,5 – 3,0 kg/con/ngày (1 lần/ngày).
  • Từ tuần chửa 15 trở đi: Ăn thức ăn CP 567SF với định mức 3,5 – 4,0 kg/con/ngày (1 lần/ngày).

5. Tỷ lệ điều trị khỏi các bệnh phổ biến trên đàn lợn trong thời gian tác giả thực tập đạt kết quả như thế nào?

  • Bệnh viêm tử cung ở lợn nái: Điều trị khỏi 42/51 con, đạt tỷ lệ 82,4%.
  • Bệnh phân trắng ở lợn con: Điều trị khỏi 332/348 con bằng Nova-Ampicol, đạt tỷ lệ 95,4%.
  • Bệnh viêm phổi do Mycoplasma hyopneumoniae: Điều trị khỏi 244/254 con bằng phác đồ phối hợp Tylogenta và Vetrimoxin, đạt tỷ lệ 96,06%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Mạnh Huỳnh đã phản ánh toàn diện tình hình chăn nuôi, công tác vệ sinh phòng dịch và năng suất sinh sản của đàn lợn nái 1.200 con nuôi gia công tại Công ty CP Bình Minh (Mỹ Đức, Hà Nội). Chuyên đề nghiên cứu đã làm rõ cơ sở sinh lý nội tiết của hội chứng chậm sinh và kiểm chứng thực nghiệm hiệu lực kích thích sinh sản của hai chế phẩm kích dục tố Gona-estrol và PG600 trên đàn nái chậm động dục. Các kết quả điều trị lâm sàng, quy trình thụ tinh nhân tạo và hạch toán chi phí thuốc trong công trình mang tính thực tiễn cao, đóng góp tài liệu kỹ thuật có giá trị cho ngành chăn nuôi lợn nái sinh sản công nghiệp.