Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kỹ thuật với đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học nâng cao hiệu quả vận hành phát điện các hồ chứa bậc thang trong thị trường điện cạnh tranh, áp dụng cho lưu vực sông Chu" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Quốc Hưng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan Kỳ Nam và PGS. Lê Văn Nghị. Công trình được bảo vệ năm 2019 tại Trường Đại học Thủy lợi thuộc chuyên ngành Kỹ thuật xây dựng công trình thủy, mã số chuyên ngành 9580202.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thủy điện giữ vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Theo quy hoạch phát triển điện lực, tổng công suất các nguồn thủy điện đạt 17.000 MW vào năm 2015; đạt 21.600 MW vào năm 2020; đạt 24.600 MW vào năm 2025 (trong đó thủy điện tích năng là 1.200 MW) và đến năm 2030 đạt khoảng 27.800 MW (thủy điện tích năng 2.400 MW). Tỷ trọng điện năng sản xuất từ thủy điện chiếm khoảng 29,5% năm 2020, giảm dần còn 20,5% năm 2025 và 15,5% năm 2030. Tính đến năm 2018, cả nước có 818 dự án thủy điện với tổng công suất lắp đặt 23.188 MW; trong đó 385 dự án đã vận hành khai thác (18.564 MW), 143 dự án đang thi công (1.848 MW) và 290 dự án đang nghiên cứu đầu tư. Riêng năm 2017, các nhà máy thủy điện đang vận hành chiếm khoảng 40% công suất đặt và 42,87% sản lượng điện toàn hệ thống.
Thực tiễn ngành điện giai đoạn này đối mặt với các tồn tại: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) gặp khó khăn về nguồn vốn đầu tư; giá điện duy trì ở mức thấp chưa khuyến khích tiết kiệm; mô hình tích hợp dọc thiếu tính minh bạch về chi phí giữa các khâu. Nhằm tháo gỡ bất cập, thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam (VCGM) chính thức vận hành thương mại từ ngày 01/7/2012. Khi tham gia VCGM, các nhà máy thủy điện được trao quyền tự chủ điều tiết nhằm tối đa hóa doanh thu chào bán điện, song bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt các ràng buộc pháp lý về phòng chống lũ và cấp nước hạ du.
Trên hệ thống sông Mã và sông Chu, quy trình vận hành liên hồ chứa được ban hành kèm theo Quyết định số 214/QĐ-TTg ngày 13/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định mực nước tối thiểu trong mùa kiệt và lưu lượng xả hạ du cho hai hồ Hủa Na và Cửa Đạt, nhưng chưa đề ra nguyên tắc phối hợp phát điện giữa các bậc thang. Đồng thời, phần lớn nghiên cứu vận hành hồ chứa trước đây chỉ tập trung tối đa hóa sản lượng điện mà chưa gắn với mục tiêu cực đại hóa doanh thu khi giá điện thị trường biến đổi theo giờ và theo tháng. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu bài toán phối hợp vận hành phát điện bậc thang cho hệ thống hồ Hủa Na - Cửa Đạt trong thị trường điện cạnh tranh.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định ba mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học, để xây dựng mô hình tính toán tối ưu doanh thu bán điện cho hệ thống hồ chứa bậc thang trong điều kiện phát điện cạnh tranh, nhằm đưa ra các chỉ dẫn vận hành kết hợp với biểu đồ điều phối đảm bảo phát đủ sản lượng hợp đồng hàng năm và hướng đến doanh thu lớn nhất.
- Phân tích xây dựng mối quan hệ giữa độ giảm và mức độ phân phối của giá bán điện giờ, theo lũy tích thời gian trong từng tháng với sản lượng điện tháng và số giờ giao dịch tháng, để làm cơ sở tính toán điều tiết năm nhằm nâng cao hiệu quả phát điện, đem lại doanh thu lớn nhất cho các chủ đầu tư.
- Áp dụng phương pháp quy hoạch động, để giải bài toán tối ưu xác định chế độ vận hành tối ưu hệ thống liên hồ chứa nói chung và hệ thống hồ chứa điều tiết năm nói riêng, trên lưu vực sông Chu trong điều kiện phát điện cạnh tranh ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống hồ chứa bậc thang điều tiết năm kết hợp phát điện trên lưu vực sông Chu trong điều kiện phát điện cạnh tranh ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống hai hồ chứa điều tiết năm Hủa Na và Cửa Đạt kết hợp phát điện. Thời đoạn tính toán là bước thời gian tháng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu vận hành hồ chứa trên thế giới
Nghiên cứu tối ưu hóa hệ thống hồ chứa được phát triển từ giữa thế kỷ XX với nhiều cách tiếp cận toán học:
- Mô hình tích hợp quy hoạch tuyến tính và quy hoạch động: Mariño và Behzad Mohammadi (1984) mở rộng mô hình hàng tháng của Becker và Yeh để tối đa hóa công suất phát điện và lượng nước cấp cho công nghiệp, sinh hoạt tại hồ Shasta thuộc dự án California Central Valley Project.
- Mô hình quy hoạch mục tiêu và dòng chảy ngẫu nhiên: Chaweng Changchit và M. Terrell (1993) áp dụng quy hoạch mục tiêu giải bài toán đa mục tiêu (cấp nước, phòng lũ, thủy điện, giải trí) cho hệ thống 3 hồ ở Oklahoma, Hoa Kỳ. Labadie J.W (2001) phát triển mô hình MODSIMQ kết hợp mô hình chất lượng nước QUAL2E và thuật toán phi tuyến Frank-Wolfe trên lưu vực sông Arkansas ở Colorado.
- Ứng dụng giải thuật tiến hóa và trí tuệ nhân tạo: Huang và đồng sự (2002) dùng quy hoạch động ngẫu nhiên kết hợp giải thuật di truyền (GA) cho 2 hồ song song tại Đài Loan. Haddad và đồng sự (2006) áp dụng thuật toán tối ưu bầy ong (HBMO) cho hồ chứa thủy điện. Kumar (2007) sử dụng thuật toán bầy đàn (SWARM) cho hệ thống 4 hồ và hồ Bhadra ở Ấn Độ. Lin và đồng sự (2008) ứng dụng mạng nơ-ron tiến hóa (ENNIS) cho hồ Shihmen ở Đài Loan với 5 biến quyết định. Aida Tayebiyan (2016) áp dụng GA tối ưu hóa hệ thống bậc thang Cameron Highland và Batang Padang tại Malaysia.
- Tối ưu hóa kinh tế trong thị trường điện: Afzali và đồng sự (2008) kết hợp mô phỏng và quy hoạch tuyến tính cho 4 hồ Khersan (Iran), giúp tăng 7,9% sản lượng điện so với vận hành riêng lẻ. Daniel De Ladurantaye và đồng sự (2009) xây dựng mô hình ngẫu nhiên quản lý cây kịch bản giá để tối đa hóa lợi nhuận bán điện tại thị trường giao ngay. Vehbi Karaeren (2014) lập trình trên MATLAB tối đa hóa phát điện bậc thang, đạt sản lượng cao hơn 5% so với vận hành đơn lẻ. Juho Saari (2016) dùng mô hình tối ưu theo tháng phân tích lợi nhuận gia tăng cho hệ thống thủy điện Oulujoki với giá điện biến động cấp số nhân. Ngoài ra, Kumar và đồng sự (2010) dùng quy hoạch động gấp khúc (FDP) chống lũ cho hồ Hirakud với chuỗi số liệu 37 năm (1958-1995); Raje và Mujumdar (2010) dùng quy hoạch động ngẫu nhiên (SDP) xét biến đổi khí hậu tại hồ Hirakud.
Các hướng nghiên cứu vận hành hồ chứa tại Việt Nam
Các công trình nghiên cứu trong nước tiếp cận bài toán điều tiết hồ chứa theo các giai đoạn phát triển:
- Nguyễn Viết Thanh (1971) ứng dụng quy hoạch động tối ưu chế độ làm việc ngày của trạm thủy điện. Đặng Trọng Khánh (1980) dùng quy hoạch động biến bài toán nhiều biến thành chuỗi bài toán một biến cho hệ thống hồ chứa lợi dụng tổng hợp. Hoàng Đình Dũng (1985) dùng phương pháp Monte Carlo mô phỏng dòng chảy lũ ngẫu nhiên kết hợp quy hoạch động để xác định dung tích kết hợp phòng lũ và phát điện hệ thống sông Hồng.
- Nguyễn Thượng Bằng và Phạm Hồng Nhật (1997) dùng quy hoạch tuyến tính xác định dung tích nhỏ nhất hồ Sơn La. Nguyễn Thượng Bằng (2002) lập mô hình tối ưu hóa 8 hồ lưu vực Lô - Gâm - Chảy giải bằng phần mềm Pascal và Excel với mục tiêu điện năng mùa kiệt lớn nhất và diện tích hồ nhỏ nhất. Ringler và Huy (2004) dùng phần mềm GAMS cân bằng nước tối ưu hệ thống sông Đồng Nai.
- Ngô Lê Long và đồng sự (2007) kết hợp mô phỏng thủy lực MIKE 11 với thuật toán tối ưu Shuffled Complex Evolution (SCE) xác định tập nghiệm Pareto giải quyết xung đột giữa phòng lũ và tích nước cuối mùa lũ hồ Hòa Bình. Lê Hùng (2012) so sánh quy hoạch động truyền thống và thuật toán di truyền, chứng minh quy hoạch động tìm kiếm nghiệm toàn cục hiệu quả hơn. Hoàng Thanh Tùng và đồng sự (2013) dùng phần mềm Crystal Ball mô phỏng Monte Carlo và tối ưu phi tuyến cho hồ Thác Bà, Tuyên Quang và bậc thang Sơn La - Hòa Bình.
- Nguyễn Thị Thu Nga (2017) dùng mô hình GAMS phân bổ nước sông Ba theo bước thời gian tháng. Hồ Ngọc Dung (2017) dùng quy hoạch động kết hợp biểu đồ điều phối tối ưu hóa lợi ích mùa cạn cho hai hồ Sơn La và Hòa Bình. Lê Ngọc Sơn (2017) kết hợp mô hình mô phỏng, tối ưu quy hoạch động và trí tuệ nhân tạo đề xuất phương án cận tối ưu cho lưu vực sông Ba (kiểm chứng tại thủy điện Sông Hinh).
Các nghiên cứu và văn bản pháp lý trên lưu vực sông Mã - sông Chu
Các nghiên cứu chuyên biệt trên lưu vực gồm: Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Xuân Lâm (2014) dùng MIKE 11 đánh giá dòng chảy kiệt hạ du sông Mã ứng với tần suất 75%, 85%, 90%; Bình (2010) dùng Mike Basin đánh giá tài nguyên nước sông Chu giai đoạn 2010-2020; Vũ Ngọc Dương (2017) lập mô hình thống kê tạo chuỗi dòng chảy và đường tham chiếu vận hành đơn hồ Cửa Đạt; Lương Ngọc Chung (2016) nghiên cứu xâm nhập mặn hạ du sông Mã - Chu; Nguyễn Văn Tài và Vũ Minh Cường (2017) dùng MIKE 11 tính toán thủy lực cắt lũ tỉnh Thanh Hóa.
Khung pháp lý điều hành liên hồ chứa trên lưu vực biến chuyển qua các quyết định:
| Năm ban hành |
Số hiệu văn bản |
Cơ quan ban hành |
Nội dung quy định chính |
| 2008 |
Quyết định 5482/QĐ-BCT |
Bộ Công Thương |
Quy trình vận hành hồ chứa Hủa Na trong giai đoạn thiết kế; dung tích phòng lũ 100 triệu m³ |
| 2014 |
Quyết định 1341/QĐ-TTg |
Thủ tướng Chính phủ |
Quy trình vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Mã trong mùa lũ; cho phép tích nước đầy hồ từ ngày 15/10 |
| 2014 |
Quyết định 3944/QĐ-BNN-TCTL |
Bộ Nông nghiệp & PTNT |
Quy trình vận hành hồ Cửa Đạt trong mùa lũ, mùa kiệt và tình huống khẩn cấp; ban hành biểu đồ điều phối giới hạn mực nước tháng |
| 2015 |
Quyết định 1911/QĐ-TTg |
Thủ tướng Chính phủ |
Quy trình vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Mã cả năm thủy văn; quy định phối hợp phòng lũ mùa lũ và chế độ vận hành hồ Cửa Đạt 5 thời kỳ mùa kiệt (01/12-30/6) theo bước 10 ngày |
| 2018 |
Quyết định 214/QĐ-TTg |
Thủ tướng Chính phủ |
Bổ sung các thủy điện Trung Sơn, Thành Sơn, Xuân Minh; giảm lưu lượng xả tối thiểu hạ du của Hủa Na từ 45 m³/s xuống 25 m³/s ở đa số các tháng; quy định tích nước sớm: Hủa Na từ 235 m (01/10) lên 237 m (15/10), sau 15/10 tích đầy 240 m (Hủa Na) và 112 m (Cửa Đạt) |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các nghiên cứu tối ưu hóa vận hành hồ chứa tại Việt Nam phần lớn tập trung vào mục tiêu sản lượng điện năng lớn nhất hoặc cấp nước, chưa đưa yếu tố giá thị trường điện vào hàm mục tiêu. Các công trình trên lưu vực sông Chu chưa xem xét bài toán phối hợp bậc thang giữa Hủa Na và Cửa Đạt theo tiêu chí tối đa hóa doanh thu phát điện. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách tích hợp thuật toán quy hoạch động với các kịch bản giá điện trong thị trường VCGM, bảo đảm tuyệt đối các ràng buộc của Quyết định số 214/QĐ-TTg.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết tối ưu hóa hệ thống tài nguyên nước: Luận án áp dụng phương pháp quy hoạch động (QHĐ) giải bài toán điều tiết liên hồ bậc thang. Để khắc phục hiện tượng bùng nổ chiều tính toán, tác giả phối hợp cách tiếp cận đệ quy (QHĐ top-down) để thiết lập hành lang biên mực nước và phương pháp QHĐ xuôi/ngược (bottom-up) để tìm đường điều phối tối ưu.
- Cơ chế kinh tế thị trường phát điện cạnh tranh (VCGM): Cơ cấu giá thanh toán cho nhà máy điện tham gia VCGM gồm hai phần:
- Hợp đồng mua bán điện dạng sai khác (CfD): Thanh toán theo giá hợp đồng ($P_c$) cho phần sản lượng hợp đồng giờ ($Q_{c\text{ giờ}}$) được phân bổ từ sản lượng hợp đồng năm ($Q_{c\text{ năm}}$) và tháng ($Q_{c\text{ tháng}}$).
- Thị trường giao ngay: Thanh toán phần sản lượng điện sai khác ($Q_{mq} - Q_c$) theo giá thị trường toàn phần ($FMP$), trong đó $FMP = SMP + CAN$. Ở đây, $SMP$ là giá điện năng thị trường (chịu mức trần $SMP_{cap}$ do Cục Điều tiết Điện lực ban hành), $CAN$ là giá công suất thị trường tính toán theo chi phí cố định của nhà máy điện mới tốt nhất (BNE).
- Mô hình cân bằng nước liên hồ bậc thang: Hồ Hủa Na nằm ở thượng nguồn xả nước xuống lòng sông Chu; lượng nước đến hồ Cửa Đạt ở hạ lưu bằng tổng lượng nước xả qua công trình Hủa Na (qua tuabin phát điện và qua công trình xả) cộng với lượng dòng chảy gia nhập từ khu giữa hai hồ.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa thuật toán quy hoạch động truyền thống, chuỗi số liệu khí tượng thủy văn 46 năm, hồ sơ kỹ thuật thiết kế của hai nhà máy thủy điện Hủa Na và Cửa Đạt, cùng các quy định pháp lý của Quy trình 214/QĐ-TTg.
- Phương pháp mô phỏng toán học: Thiết lập bài toán tối ưu với hàm mục tiêu cực đại hóa tổng doanh thu bán điện của bậc thang trong chu kỳ năm:
$$\max \sum_{t=1}^{12} \left[ R_{\text{Hủa Na}}(t) + R_{\text{Cửa Đạt}}(t) \right]$$
Hệ thống ràng buộc gồm:
- Phương trình cân bằng nước từng hồ qua các thời đoạn tháng.
- Giới hạn dung tích và mực nước: Mực nước chết ($MNC$), mực nước dâng bình thường ($MNDBT$), mực nước trước lũ ($MNTLũ$), mực nước lũ kiểm tra ($MNLKT$) và dung tích phòng lũ ($VPLũ$).
- Giới hạn công suất phát điện: Công suất phát ổn định thấp nhất ($P_{\min}$) và công suất lắp máy ($N_{lm}$).
- Giới hạn lưu lượng cấp nước hạ du: Lưu lượng xả tối thiểu của Hủa Na (25 m³/s) và lưu lượng cấp nước cho hạ du sông Chu qua kênh Bắc và kênh Nam từ hồ Cửa Đạt.
- Điều kiện biên mực nước: Đường đảm bảo phát sản lượng hợp đồng ($Q_c$) được tạo từ thuật toán đệ quy.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích tương quan thống kê chuỗi số liệu giá thị trường và sản lượng điện lịch sử để thiết lập các hàm quan hệ giá bán điện; tổng hợp so sánh kết quả tính toán giữa các kịch bản.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu thủy văn: Chuỗi số liệu dòng chảy đến các vị trí hồ trên lưu vực sông Chu trong thời gian 46 năm.
- Dữ liệu thị trường điện: Số liệu giá trần thị trường ($SMP_{cap}$) giai đoạn 2013-2018; giá công suất ($CAN$) và giá thị trường toàn phần ($FMP$) trung bình tháng giai đoạn từ tháng 1/2017 đến tháng 6/2018 do Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0 / NLDC) cung cấp; nhà máy chuẩn BNE được chọn là Vĩnh Tân 2.
- Dữ liệu vận hành thực tế: Sản lượng hợp đồng ($Q_c$), giá bán điện tháng, số giờ vận hành và doanh thu thực tế của Công ty Cổ phần Thủy điện Hủa Na và Nhà máy Thủy điện Cửa Đạt giai đoạn 2012-2018.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về nghiên cứu vận hành bậc thang hồ chứa và thị trường điện cạnh tranh
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình hóa toán học hệ thống hồ chứa và diễn biến phát triển của thị trường điện. Tác giả tổng thuật chi tiết các mô hình toán học tối ưu hóa trên thế giới và tại Việt Nam, chỉ rõ các phương pháp QHĐ, QHTT, QHPT và giải thuật tiến hóa đều có ưu điểm riêng nhưng QHĐ cho thấy tính ổn định cao nhất khi tìm kiếm nghiệm toàn cục cho bài toán điều tiết thủy điện.
Về thị trường điện, chương này phân tích lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam qua ba cấp độ: Thị trường phát điện cạnh tranh (VCGM), Thị trường bán buôn điện cạnh tranh (VWEM) và Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (VCRM). Tính đến ngày 01/7/2018, quy mô tham gia trực tiếp VCGM đạt 87 trên tổng số 132 nhà máy điện đang vận hành, tương ứng công suất đặt 22.481 MW (chiếm 49,37% công suất toàn hệ thống); 45 nhà máy còn lại chưa trực tiếp chào giá (chiếm 43,63% công suất), trong đó có 11 nhà máy thủy điện chiến lược đa mục tiêu.
Cơ cấu thị phần công suất đặt của các đơn vị trực tiếp tham gia chào giá trên VCGM tính đến ngày 30/6/2018 được tổng hợp như sau:
| Đơn vị phát điện tham gia trực tiếp |
Tỷ lệ thị phần công suất đặt |
| Tổng công ty Phát điện 3 (EVNGENCO3) |
31% |
| Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) |
25% |
| Tổng công ty Phát điện 2 (EVNGENCO2) |
13% |
| Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PVP) |
13% |
| Các nhà máy điện độc lập tư nhân (IPPs) |
11% |
| Tổng công ty Điện lực TKV (TKV) |
7% |
Chương 1 cũng phân tích biến động giá trần thị trường ($SMP_{cap}$) tăng dần qua các mốc thời gian từ 868 đ/kWh (01/02/2013) lên 900 đ/kWh (01/5/2013), 1.015 đ/kWh (01/6/2013), 1.168 đ/kWh (01/01/2014), 1.171 đ/kWh (01/01/2015), 1.266 đ/kWh (01/01/2016) và đạt 1.280 đ/kWh từ 01/01/2017 đến năm 2018. Đồng thời, tác giả phản ánh thực trạng tham gia VCGM của hai hồ trên sông Chu: Thủy điện Hủa Na từng phải chủ động xin rút khỏi thị trường từ 27/5/2014 đến 16/6/2014 và từ 17/11/2015 đến 01/02/2016 do mực nước hồ hạ thấp dưới biên dưới biểu đồ điều phối; Thủy điện Cửa Đạt chịu ràng buộc cấp nước nông nghiệp cho vùng hạ du sông Chu nên đơn giá bán bình quân thường thấp hơn Hủa Na do không được linh hoạt chọn giờ cao điểm có giá cao để phát điện.
Chương 2. Xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn nâng cao hiệu quả vận hành phát điện các hồ chứa bậc thang trong thị trường điện cạnh tranh
Chương 2 tập trung thiết lập mô hình toán học tối ưu hóa doanh thu phát điện cho bậc thang hồ chứa Hủa Na và Cửa Đạt. Tác giả phân tích các dạng bài toán vận hành liên hồ chứa và lựa chọn phương pháp quy hoạch động làm công cụ giải thuật cốt lõi.
Cấu trúc thuật toán được tổ chức thành các khối chức năng:
- Khối tạo biên mực nước: Sử dụng phương pháp đệ quy (QHĐ top-down) xác định tập hợp các đường mực nước khống chế trên và dưới nhằm bảo đảm phát đủ sản lượng hợp đồng ($Q_c$) được giao trong từng tháng của năm thủy văn, đồng thời thỏa mãn giới hạn mực nước đón lũ ($MNTLũ$) và mực nước dâng bình thường ($MNDBT$).
- Khối tính toán thủy năng và doanh thu đơn hồ: Xác định mối quan hệ giữa dung tích, diện tích mặt nước, cột nước phát điện, lưu lượng xả qua tuabin, công suất phát điện và doanh thu bán điện theo từng bước mực nước đầu và cuối thời đoạn tháng.
- Khối tính toán tối ưu bậc thang hai hồ: Áp dụng thuật toán QHĐ (bottom-up) giải bài toán tối ưu với hàm mục tiêu cực đại hóa tổng doanh thu liên hồ. Nước xả từ hồ thượng lưu Hủa Na được đưa vào phương trình cân bằng lưu lượng của hồ hạ lưu Cửa Đạt, có xét đến độ trễ thời gian dòng chảy và lượng nước gia nhập khu giữa.
- Thuật toán chuyển giai đoạn: Rà soát các trạng thái mực nước thỏa mãn điều kiện biên, lưu trữ quỹ đạo tối ưu và chuyển tiếp bước tính cho 12 tháng trong năm thủy văn. Chương trình được mã hóa bằng ngôn ngữ lập trình chuyên dụng, cho phép tự động lặp trên chuỗi số liệu thủy văn 46 năm.
Chương 3. Áp dụng tính toán và phân tích kết quả xác định xu hướng vận hành cho bậc thang hồ chứa trên lưu vực sông Chu
Chương 3 áp dụng chương trình toán học đã thiết lập vào tính toán thực tế cho hai hồ Hủa Na và Cửa Đạt trên sông Chu. Tác giả đề xuất và kiểm chứng hai kịch bản giá bán điện:
- Kịch bản 1 (KB1): Giá điện biến đổi theo sản lượng điện tháng. Dựa trên dữ liệu giá và sản lượng lịch sử, tác giả xây dựng đường quan hệ hàm giá bán và sản lượng riêng biệt cho mùa lũ và mùa cạn của từng nhà máy.
- Kịch bản 2 (KB2): Giá điện biến đổi theo lũy tích số giờ bán điện. Dựa trên đường lũy tích giá khớp lệnh theo giờ của thị trường điện, tác giả xác định hệ số tương quan tuyến tính ($R$) giữa diện tích đường lũy tích giá giờ với mức giá bình quân tháng để đưa vào mô hình tối ưu.
Mô hình thực hiện tính toán trên toàn bộ chuỗi số liệu thủy văn 46 năm và phân loại kết quả theo 3 nhóm năm: Năm ít nước, năm trung bình nước và năm nhiều nước. Kết quả tính toán cho thấy:
- Vận hành trong mùa cạn: Luận án xác định hành lang mực nước tối ưu cho hồ Hủa Na và Cửa Đạt. Khi mực nước Cửa Đạt xuống dưới đường biên tối ưu, hồ Hủa Na cần tăng cường phát điện xả nước tiếp ứng cho Cửa Đạt duy trì cột nước làm việc và bảo đảm lưu lượng cấp nước tối thiểu hạ du (25 m³/s), tránh tình trạng Cửa Đạt phải xả đáy không qua phát điện.
- Vận hành trong mùa lũ và thời kỳ tích nước: Theo Quy trình 214/QĐ-TTg, hai hồ được phép tích nước sớm hơn so với quy trình cũ. Hủa Na được nâng mực nước từ 235 m ngày 01/10 lên 237 m ngày 15/10; sau ngày 15/10 cả hai hồ được phép tích đầy đến mực nước dâng bình thường (240 m với Hủa Na và 112 m với Cửa Đạt). Mô hình đã tận dụng quy định này để tích nước tối ưu, nâng cao cột nước phát điện cho các tháng mùa khô tiếp theo.
- So sánh hiệu quả kinh tế: Luận án so sánh kết quả tối ưu liên hồ theo hàm mục tiêu doanh thu lớn nhất với mục tiêu sản lượng điện năng lớn nhất và so sánh với số liệu vận hành thực tế các năm 2014-2015, 2015-2016, 2016-2017. Kết quả khẳng định việc điều tiết theo mục tiêu doanh thu kết hợp kịch bản giá đem lại tổng doanh thu cao hơn phương án phát điện theo sản lượng thuần túy và vượt trội so với thực tế vận hành riêng rẽ của hai nhà máy. Từ đó, tác giả đưa ra các chỉ dẫn vận hành cụ thể cho từng tháng trong năm thủy văn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Luận án đã hoàn thiện luận cứ khoa học về bài toán vận hành tối ưu hệ thống hồ chứa bậc thang đa mục tiêu có xét đến cơ chế thị trường điện cạnh tranh tại Việt Nam; chuyển đổi hàm mục tiêu truyền thống từ tối đa hóa sản lượng điện năng ($E_{\max}$) sang tối đa hóa tổng doanh thu bán điện ($R_{\max}$).
- Cải tiến phương pháp quy hoạch động thông qua kết hợp kỹ thuật đệ quy top-down để xây dựng hành lang biên mực nước (bảo đảm phát đủ sản lượng hợp đồng $Q_c$) và kỹ thuật bottom-up để tối ưu hóa điều tiết hai hồ bậc thang, giúp giải quyết triệt để bài toán bùng nổ chiều tính toán khi số chiều không gian trạng thái tăng lên.
- Thiết lập được phương pháp luận xây dựng hai kịch bản giá bán điện (theo sản lượng tháng và theo lũy tích giờ giao dịch) phản ánh sát thực tế cơ chế hình thành giá trên thị trường VCGM, làm cơ sở khoa học cho công tác điều tiết năm của các hồ chứa thủy điện.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng
- Xây dựng bộ chương trình tính toán và biểu đồ điều phối vận hành kết hợp bảo đảm phát đủ sản lượng hợp đồng ($Q_c$) và tối ưu hóa doanh thu cho hệ thống bậc thang thủy điện Hủa Na - Cửa Đạt trên lưu vực sông Chu.
- Đề xuất quy tắc phối hợp vận hành liên hồ cụ thể: Trong mùa cạn, phối hợp điều tiết xả từ Hủa Na để duy trì mực nước hiệu quả cho Cửa Đạt đáp ứng nhu cầu cấp nước hạ du; trong giai đoạn cuối lũ, áp dụng linh hoạt quy định tích nước sớm của Quy trình 214/QĐ-TTg từ ngày 01/10 để đưa hồ lên mực nước dâng bình thường vào ngày 15/10 nhằm tích trữ cột nước cho mùa khô.
- Cung cấp các chỉ dẫn vận hành và chiến lược chào giá theo tháng cho chủ đầu tư hai nhà máy thủy điện Hủa Na và Cửa Đạt, hỗ trợ doanh nghiệp chủ động lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu bán điện trong khi vẫn tuân thủ đầy đủ các quy định phòng chống lũ và cấp nước hạ du.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Bước thời gian tính toán trong mô hình là thời đoạn tháng, chưa chi tiết hóa xuống bước thời gian 10 ngày, ngày hoặc giờ, do đó chưa hoàn toàn bám sát chu kỳ chào giá giờ của thị trường điện thực tế và các dự báo thủy văn hạn ngắn.
- Các kịch bản giá điện (KB1 và KB2) được xây dựng dựa trên chuỗi số liệu thống kê lịch sử của thị trường VCGM trong giai đoạn đầu, chưa mô phỏng hết tính biến động ngẫu nhiên phức tạp của giá thị trường trong tương lai dài hạn.
- Ràng buộc nhu cầu sử dụng nước hạ du được đưa vào mô hình dưới dạng các đại lượng tất định cố định theo quy trình vận hành liên hồ, chưa tính đến tính bất định của nhu cầu nước nông nghiệp thực tế theo diễn biến thời tiết.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng mô hình toán học và chương trình tính toán với bước thời gian ngắn hơn (thời đoạn 10 ngày, ngày hoặc giờ) phục vụ công tác điều hành thời gian thực và chiến lược chào giá chu kỳ ngày tới.
- Phát triển và hiệu chỉnh mô hình tối ưu để thích ứng với các giai đoạn phát triển tiếp theo của thị trường điện lực Việt Nam, bao gồm thị trường bán buôn điện cạnh tranh (VWEM) và thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (VCRM).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Kỹ thuật công trình thủy, Thủy điện và Năng lượng tái tạo, Quản lý tài nguyên nước: Tham khảo khung phương pháp luận quy hoạch động kết hợp mô hình kinh tế thị trường điện trong bài toán điều tiết liên hồ chứa.
- Đơn vị quản lý và vận hành nhà máy thủy điện: Trực tiếp là Công ty Cổ phần Thủy điện Hủa Na, Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 3 (đơn vị quản lý đầu mối Cửa Đạt), Công ty Cổ phần Thủy điện Cửa Đạt cùng các đơn vị quản lý các bậc thang thủy điện khác trên toàn quốc nhằm áp dụng phương pháp lập biểu đồ điều phối kết hợp và chiến lược chào giá thị trường.
- Các cơ quan quản lý nhà nước và điều độ hệ thống điện: Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0 / NLDC), Cục Điều tiết Điện lực (Bộ Công Thương), Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai trong quá trình rà soát, đánh giá và điều chỉnh các quy trình vận hành liên hồ chứa đa mục tiêu bảo đảm hài hòa lợi ích kinh tế và an toàn hạ du.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu giá thanh toán cho nhà máy thủy điện khi tham gia thị trường phát điện cạnh tranh (VCGM) được xác định như thế nào?
Theo quy định của VCGM được trình bày trong luận án, doanh thu của nhà máy gồm hai thành phần: Doanh thu theo hợp đồng mua bán điện dạng sai khác (CfD) thanh toán theo giá hợp đồng ($P_c$) cho sản lượng hợp đồng cam kết ($Q_c$ giờ, tháng, năm); và Doanh thu trên thị trường giao ngay thanh toán cho phần sản lượng sai khác ($Q_{mq} - Q_c$) theo giá thị trường toàn phần ($FMP$). Giá $FMP$ bằng tổng của giá điện năng thị trường ($SMP$, chịu khống chế bởi mức trần $SMP_{cap}$) và giá công suất thị trường ($CAN$, tính toán dựa trên chi phí của nhà máy điện mới tốt nhất BNE là Vĩnh Tân 2).
2. Tại sao giá bán điện bình quân của Thủy điện Cửa Đạt thường thấp hơn Thủy điện Hủa Na?
Thủy điện Cửa Đạt nằm ở hạ lưu, đóng vai trò công trình đầu mối đa mục tiêu cấp nước cho nông nghiệp và sinh hoạt vùng Bắc và Nam sông Chu theo các thời đoạn cố định của Quy trình liên hồ. Do phải xả nước phát điện theo lịch cấp nước hạ du bắt buộc, Cửa Đạt không thể chủ động lựa chọn thời điểm có giá điện thị trường cao để bán hoặc ngừng bán vào các giờ thấp điểm giá thấp; đồng thời không thể linh hoạt vận hành số tổ máy để tối ưu hóa cột nước như hồ Hủa Na ở phía thượng lưu.
3. Phương pháp quy hoạch động (QHĐ) trong luận án được cải tiến thế nào để giải quyết bài toán bùng nổ chiều tính toán?
Luận án kết hợp hai kỹ thuật: Sử dụng phương pháp đệ quy (QHĐ top-down) xuất phát từ mực nước cuối năm để rà soát ngược, tạo ra dải biên mực nước thượng lưu khống chế nhằm bảo đảm phát đủ sản lượng hợp đồng $Q_c$; sau khi thu hẹp được không gian trạng thái khả thi, tác giả áp dụng thuật toán QHĐ (bottom-up) giải bài toán tối ưu bậc thang hai hồ theo các bước thời đoạn tháng, qua đó giảm thiểu đáng kể số nút lưới cần tính toán và yêu cầu bộ nhớ máy tính.
4. Quy trình vận hành liên hồ chứa số 214/QĐ-TTg năm 2018 mang lại những thay đổi quan trọng nào cho vận hành phát điện hai hồ Hủa Na và Cửa Đạt?
Quy trình 214/QĐ-TTg điều chỉnh giảm lưu lượng xả tối thiểu hạ du của hồ Hủa Na ở đa số các tháng mùa cạn từ 45 m³/s xuống 25 m³/s, giúp hồ giữ nước linh hoạt hơn. Đồng thời, quy trình cho phép hai hồ tích nước sớm vào cuối mùa lũ: Hồ Hủa Na được phép tích nước từ cao trình 235 m (ngày 01/10) lên 237 m (ngày 15/10); từ sau 15/10 đến 30/11 cả hai hồ được phép tích đầy đến mực nước sau lũ (240 m đối với Hủa Na và 112 m đối với Cửa Đạt), tạo điều kiện nâng cao cột nước phát điện cho mùa khô.
5. Hai kịch bản giá điện (KB1 và KB2) được xây dựng dựa trên nguyên lý nào?
Kịch bản 1 (KB1) xây dựng hàm giá điện biến đổi theo sản lượng tháng, dựa trên phân tích thống kê quan hệ thực tế giữa đơn giá bán điện và sản lượng phát từng tháng trong mùa lũ và mùa cạn của hai nhà máy. Kịch bản 2 (KB2) xây dựng hàm giá biến đổi theo lũy tích số giờ bán điện, căn cứ vào đường lũy tích giá khớp lệnh theo giờ của thị trường điện và hệ số tương quan tuyến tính giữa diện tích đường lũy tích với giá bán điện tháng, phục vụ bài toán điều tiết năm.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Lê Quốc Hưng đã giải quyết bài toán nâng cao hiệu quả vận hành phát điện cho bậc thang hồ chứa điều tiết năm Hủa Na và Cửa Đạt trên lưu vực sông Chu trong bối cảnh thị trường phát điện cạnh tranh tại Việt Nam. Bằng việc ứng dụng thuật toán quy hoạch động cải tiến kết hợp thiết lập hai kịch bản giá điện thị trường, công trình đã xây dựng thành công biểu đồ điều phối kết hợp bảo đảm phát đủ sản lượng hợp đồng và tối đa hóa tổng doanh thu phát điện. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống chỉ dẫn vận hành cụ thể cho từng thời kỳ trong năm thủy văn, giúp các chủ hồ chủ động nâng cao hiệu quả kinh tế đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an toàn công trình, cắt giảm lũ và cấp nước hạ du theo Quyết định số 214/QĐ-TTg.