Chương 1: GIỚI THIỆU MÔ HÌNH RICH INTERNET APPLICATION 1.1 Tổng quan sự phát triển mô hình Mô hình Rich Internet Application (RIA) được hãng Macromedia chính thức công bố vào năm 2002. Năm 2007 một nhóm nghiên cứu gồm 3 nhà khoa học Dana Moore thuộc lĩnh vực công nghệ bảo mật BBN, Raymond Budd và Edward (Ted) Benson là kỹ sư phần mềm thuộc lĩnh vực công nghệ bảo mật BBN đã viết cuốn sách “Professional Rich Internet Applications” trình bày những vấn đề cơ bản của mô hình RIA. Thuật ngữ “Rich Internet Applications” được ra đời từ năm 2002. Nhưng trước đó, nhiều triển khai theo nội dung này đã được thử nghiệm và có rất nhiều tên gọi khác nhau đã được sử dụng: − Remote Scriptting, được Microsoft đưa ra năm 1998.
− X Internet, được tổ chức nghiên cứu Forrester đưa ra năm 2000. Và cuối cùng là Rich Web Application. Theo Wikipedia, RIA là các ứng dụng trên web có đầy đủ các tính năng và đặc trưng của các ứng dụng desktop truyền thống. Mô hình RIA là một sự kết hợp giữa ứng dụng web truyền thống với mô hình ứng dụng destop thể hiện ở ý tưởng là đưa một số xử lý trước đây vẫn được thực hiện trên máy chủ trong mô hình truyền thống về thực hiện trên máy khách, giữ lại các xử lý khác trên máy dịch vụ.
Trong các ứng dụng web truyền thống ban đầu, phần ứng dụng về mặt lôgic vẫn chạy trên máy chủ để thực hiện các xử lý sau khi người dùng gửi yêu cầu tới nó bằng cách chọn đường liên kết (link) hoặc nút lệnh trên giao diện. Cơ chế này được gọi là cơ chế đồng bộ, có nghĩa là, người dùng sau khi gửi yêu cầu đi phải đợi máy chủ xử lý và tải lại trang kết quả xử lý. Quá trình này cứ lặp đi lặp lại một cách chậm chạp mỗi khi có yêu cầu mới gây cảm giác khó chịu, bất tiện cho người sử dụng. Mô hình RIA ra đời đã giải quyết được vấn đề bất tiện này.1 là sơ đồ tương tác giữa các đối tượng trong môi trường hoạt động theo mô hình web.
Sơ đồ cho ta thấy được các hành vi có liên quan tới quá trình tương tác giữa người sử dụng và ứng dụng web. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Ở mức cao nhất, mô hình minh họa 3 nội dung chính thể hiện bằng ba phần được đóng khung và tô bằng các màu khác nhau: − Phần trên cùng(1): thiết kế của ứng dụng và môi trường sử dụng − Hành vi của người dùng (2): nhìn, suy nghĩ, tác động, bỏ qua − Hành vi khi sử dụng ứng dụng (3): tương tác của người dùng và cách thức đáp ứng của hệ thống ứng dụng web. Sơ đồ tương tác giữa người dùng và ứng dụng trên web Mô hình trên mô tả từng bước những gì xảy ra trong suốt quá trình tương tác giữa người sử dụng và ứng dụng dựa trên trình duyệt. Phần mũi tên đen đậm thể hiện luồng hoạt động của một ứng dụng Web truyền thống bắt đầu từ yêu cầu của người sử dụng (click), thông qua giao thức HTTP gửi yêu cầu tới máy chủ, sau khi nhận yêu cầu, xử lý, máy chủ sẽ trả lại kết quả về cho máy trạm tại bộ nhớ tạm thời của trình duyệt (browse cache), khi dữ liệu đã trả về đủ tại bộ nhớ tạm, người sử dụng có thể nhận được dữ liệu thông qua các khung nhìn trên trang web.
Theo sơ đồ này, nếu chu trình di chuyển thông tin theo mũi tên có thể tách biệt thành hai vòng luân chuyển dữ liệu giữa người dùng - máy khách và giữa máy khách – và máy dịch vụ để chúng hoạt động một cách độc lập sẽ cải thiện đáng kể sự hoạt động của hệ thống này. Mô hình RIA đã phát triển trên ý tưởng này.2 mô tả quá trình tương tác trong ứng dụng web dựa trên mô hình RIA. Sơ đồ cho ta thấy, các đoạn thẳng với nút đậm hai đầu mô tả sự tương tác giữa hai đối tượng chứa các đầu mút đó. Rõ ràng là, quá trình tương tác giữa máy khách (engine) và người dùng (thể hiện ra ở display) có sự độc lập nhất định (tương đối) với quá trình tương tác giữa máy khách và máy chủ (webserver và CSDL).
Sự sai khác này được xem là sự không đồng bộ của hai quá trình tương tác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Mô hình giao tiếp trong ứng dụng web theo mô hình RIA Để thực hiện được mô hình trên đây, người ta đã sử dụng một sản phẩm công nghệ được kết hợp từ các bộ sản phẩm Flash của hãng Abode, java applets, và Ajax .3 là sơ đồ mối quan hệ giữa Flash, Ajax, và java applets. Cấu trúc giải pháp công nghệ trong mô hình RIA. Sau này chúng ta sẽ phân tích rõ vai trò của mỗi thành phần này trong mô hình RIA.2 Các đặc điểm của RIA a.
Các thế hệ mới của các ứng dụng Internet được mở rộng và có thể được thêm vào nhiều thành phần khác nhau. Với mô hình "nhìn và cảm nhận", web với RIA cho ta thấy sự mạnh mẽ của bảng định dạng (CSS). Các ứng dụng web trước đây chỉ "cho phép lựa chọn", và đơn giản áp dụng một CSS nhúng trong một trang HTML và hiển thị ra. RIAs kết hợp các chức năng giao diện người dùng tốt nhất của các ứng dụng desktop với các tiếp cận rộng lớn và chi phí triển khai thấp của các ứng dụng Web, tương tác tốt nhất với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 truyền thông phương tiện đa.
Kết quả cuối cùng là làm cho các ứng dụng trực quan hơn, tương tác linh hoạt hơn đáp ứng hiệu quả cho người dùng. Web với phong cách cũ có một số mức động, luôn xem là một khả năng của nó. Nhưng trước khi sự xuất hiện RIA, web không cung cấp sự tương tác dễ dàng. Nhưng với các ứng dụng Web 2.0, tất các yếu tố cơ bản của đặc tả W3C truyền thống của HTML được sử dụng lại để xây dựng ứng dụng với nhiều tương tác hơn.
Phát triển RIA tạo ra nội dung trong các ứng dụng trung gian khác mà các nhà phát triển hoặc người dùng cuối có thể tưởng tượng ra các khả năng tương tác với nó, hiển thị nó, hoặc sử dụng lại nội dung của nó. Với RIA, Trang Web là sự phân chia giao diện và phía sau Các công nghệ đằng sau RIA đã được phát triển ngay cả trước khi Internet đầu tiên bùng nổ. Nhưng chỉ có ứng dụng Web2.0 mới cho phép ta làm được tất cả. RIAs thể hiện mức độ đáp ứng phong phú như của máy khách cần có khi được truy cập Internet tốc độ cao, băng thông rộng phổ biến trong thị trường.
Đó là một điều kiện tốt để phát triển các ứng dụng RIA. Phát triển RIA là sự cập nhật của mô hình khách-chủ (client-server) hiện đại. Sự khác biệt sâu sắc ngày nay là ở chỗ, số máy khách đa dạng có thể, với sự bùng nổ của các thiết bị không dây được kích hoạt, máy tính xách tay, công nghệ Wi-Fi phổ biến, và thế hệ hậu duệ tiếp theo của PDA đều có thể tương tác qua web. Vì vậy nhu cầu sử dụng Web đã thay đổi đáng kể, không đơn thuần chỉ là trình duyệt.
Có thể xem một ứng dụng khác của RIA là AJAX trong trình duyệt, như một thủ thuật đơn giản của vòng kép kín theo đó dữ liệu đi – về đến máy chủ. Chẳng hạn, một người sử dụng nhập dữ liệu ban đầu có ảnh hưởng đến một trường dữ liệu khác trên trang web để "làm mới một phần trang”. Các trình duyệt hiện đại có thể làm tươi lại các phần nhất định nào đó của trang web mà không phải thay mới cả trang như trước kia. Làm mới từng phần phía trước đã cải thiện đáng kể cung cách của người dùng, làm cho ứng dụng diễn ra liên tục hơn.
Ứng dụng RIA là vô hình RIA là sản phẩm vô hình để có được ứng dụng cho các tình huống cần thiết "phục vụ mọi nhu cầu". Google là một ví dụ điển hình của các ứng dụng vô hình. Nó thực hiện tức thời như không có gì xẩy ra đối với người dùng cuối. Nguyên tắc cơ bản của thiết kế Web đã thay đổi.
Ban đầu, thiết kế chỉ là làm ra các trang web thay thế cho các tạp chí. Thiết kế web giờ đây nghiêng về hướng làm cho mọi thứ trông giống như những gì trên thực tế. Thiết kế web2 đã trở thành những ứng dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 mới cho thiết kế web, và CSS được thêm thắt nhiều tính năng để nâng cao kinh nghiệm người dùng chứ không còn đơn thuần là việc bố trí nội dung. Ứng dụng RIA phá vỡ “rào cản sở hữu” Các nền tảng xưa nay có xu hướng kiểm soát kênh sở hữu trí tuệ khi đưa vào tường bao (walled garden).
Khi tạo một tài liệu, mặc dù là tác giả, ta không thể sở hữu nội dung độc lập với các công cụ sử dụng để tạo ra nó. Nội dung không thể tồn tại mà không có ứng dụng trung gian – một sự lãng phí. Các nhà cung cấp bán các ứng dụng và lưu trữ các nội dung mô hình trong một định dạng có thể ngăn chặn bất cứ ai sử dụng sản phẩm của họ nếu không được sự cho phép. Nhà cung cấp quyết định khi nào, làm thế nào để sử dụng mà không gây lỗi.
Các nhà cung cấp đã tạo ra các hệ thống phân phối lớn dựa trên sự đóng góp nội dung của người dùng cuối. Sự đầu tư đó giữ cho các ứng dụng như là “luôn được cập nhật ” và được nhà cung cấp quyết định chứ không phải người sở hữu chúng. Ứng dụng RIA tạo ra công cụ mới Sự phong phú của các ứng dụng miễm phí cho phép người dùng sáng tạo nội dung khi họ tương tác. Họ không cần đầu tư vào việc duy trì các công cụ so với các thế hệ trước đây của các ứng dụng “tường bao”.
Nếu ứng dụng đầu tiên của Internet là phục vụ và trình bày thông tin siêu liên kết, thì lần thứ hai là cung cấp thông tin cá nhân để hoàn tất giao dịch, sau đó lần thứ ba chắc chắn là tạo ra, tiêu thụ, và thao tác các nội dung trong một xã hội hoặc thiết lập tương tác. Các ứng dụng web cung cấp cho thế hệ máy tính để bàn những công cụ mới, cho phép người dùng cuối viết, vẽ, in và lưu hành những sáng tạo của họ trong khuôn khổ khả năng của người dùng.