Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội. Chương 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng chính sách tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện Mê Linh. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách tại Phòng giao dịch NHCSXH huyện Mê Linh. 7 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.
Một số vấn đề cơ bản về tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội 1. Khái quát về Ngân hàng Chính sách xã hội 1. Khái niệm Ngân hàng Chính sách xã hội Theo tác giả Nguyễn Huy Thái (2016): Trong xu thế phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, ở mỗi quốc gia đều nảy sinh tình trạng có những ngành hàng, những khu vực kinh tế, những đối tượng khách hàng có sức cạnh tranh kém, không đủ các điều kiện tiếp cận với dịch vụ của các ngân hàng thương mại (NHTM). Ví dụ, các ngành hàng mang tính lợi ích công cộng, vùng sâu, vùng xa địa hình khó khăn hiểm trở, bị chia cắt, điều kiện khí hậu tự nhiên khắc nghiệt…, chịu chi phí lớn, rủi ro cao, hơn nữa đòi hỏi vốn đầu tư lớn thời gian dài, lợi nhuận thấp hoặc không có lợi nhuận.
Tuy nhiên, những ngành hàng, những khu vực kinh tế và những đối tượng khách hàng này không thể bị “bỏ rơi”, nó phải có sự hỗ trợ của Chính phủ để tồn tại và phát triển bởi tính xã hội của nó: nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế cân bằng giữa các vùng, miền, giữa các thành phần, đảm bảo sự chênh lệch giàu nghèo không quá lớn và nhằm giải quyết các mục tiêu chính trị - xã hội. Để giảm thiểu những mặt trái khuyết tật của cơ chế thị trường và giải quyết các mục tiêu nêu trên, Chính phủ đã sử dụng nhiều công cụ trong đó có công cụ tín dụng chính sách. Như vậy, tín dụng chính sách là các khoản vay ưu đãi theo chỉ định của Chính phủ. Đây là việc cho vay có tính chất phi thương mại đối với các hoạt động bán tài chính không đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện tiêu chí thương mại, nhưng lại có tác động xã hội chính trị quan trọng trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia.
Tùy điều kiện và nhu cầu của mỗi quốc gia, Chính phủ thiết lập các kênh tín dụng hoặc thiết lập các Ngân hàng chuyên biệt để: Cho vay các khu vực kinh tế ưu tiên; Cho vay các ngành kinh tế có tính chất chiến lược; Cho vay các công trình có 8 tính khả thi về tài chính nhưng đòi hỏi vốn lớn, thời gian dài (công trình cơ sở hạ tầng, đường xá…); Cho vay xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn và các khu vực xã hội. Các ngân hàng được thiết lập để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ được gọi là Ngân hàng Chính sách. Ngân hàng Chính sách được chia làm 2 loại: (i) Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách phát triển được gọi là Ngân hàng Phát triển. (ii) Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách xã hội được gọi là NHCSXH.
NHCSXH là tổ chức tín dụng thuộc Chính phủ Việt Nam, được thành lập theo Quyết định 131/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ để cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Khác với ngân hàng thương mại, Ngân hàng Chính sách xã hội hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được Chính phủ Việt Nam bảo đảm khả năng thanh toán; tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng là 0%; Ngân hàng không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước. Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm chung nhất về NHCSXH là loại hình Ngân hàng chuyên biệt được các Chính phủ thiết lập nhằm cung cấp các khoản cho vay ưu đãi đối với các đối tượng khách hàng, ngành nghề, khu vực kinh tế được đặc biệt quan tâm. Vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội Theo Quản Thanh Tùng (2017), tín dụng NHCSXH đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác luôn giữ vai trò cần thiết, quan trọng trong nền kinh tế, xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu của Chính phủ vì sự phát triển cân đối của nền kinh tế và vì một xã hội ổn định, dân giàu, nước mạnh thể hiện ở các nội dung sau: Một là, làm đầu mối huy động mọi nguồn vốn dành cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác: Là nơi huy động các nguồn vốn phục vụ cho chương trình XĐGN, là địa chỉ cần thiết để các tổ chức, cá nhân thể hiện mối quan tâm đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác thông qua việc gửi vốn có lãi hoặc không lãi để cho người nghèo vay.
9 Đồng thời, thông qua hoạt động huy động vốn để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay, được triển khai rộng rãi trong cộng đồng dân cư và những hộ nghèo thông qua tổ nhóm tiết kiệm đã khơi dậy tinh thần trách nhiệm đối với sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, phát huy nội lực bản thân, nội lực từng vùng và khu vực, để thực hiện thành công công cuộc xóa đói giảm nghèo. Hai là, vốn tín dụng NHCSXH dành cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác góp phần tạo nhiều cơ hội việc làm cho người nghèo: vốn tín dụng cho người nghèo đã góp phần tạo việc làm cho hàng vạn lao động, phát huy tiềm năng sẵn có của những hộ gia đình nghèo. Tình trạng thất nghiệp diễn ra khá phổ biến ở các vùng nông thôn. Đặc biệt hộ nghèo lại thường là những gia đình đông con, không có việc làm, thu nhập thấp không đảm bảo chi tiêu, đời sống sinh hoạt trong gia đình.
Thông qua vốn tín dụng cho người nghèo đã hỗ trợ phát triển ngành nghề ở nông thôn, như chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống, thủ công mỹ nghệ, ngành nghề truyền thống… Nhờ vậy đã giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động, giải quyết phần lớn thời gian nông nhàn, tận dụng lao động để khai thác các ngành nghề truyền thống, khai thác tiềm năng nội lực, tạo cơ hội cho người nghèo tự vận động, vượt qua khó khăn, vươn lên thoát khỏi đói nghèo, hòa nhập dần dần vào cơ chế kinh tế thị trường. Ba là, với nguyên tắc cho vay có hoàn trả cả gốc và lãi đã khắc phục tư tưởng tự ti, ỷ lại khi nhận vốn cấp phát; tự nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh để hòa nhập kinh tế thị trường. Đương nhiên điều này không có nghĩa là không cần tới phương thức cấp phát. Nhà nước cần phải có các giải pháp đầu tư cấp phát các công trình cơ sở hạ tầng, phúc lợi công cộng, tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách xã hội tiếp cận với nền sản xuất hàng hóa.
Bốn là, cung cấp vốn tín dụng đối với người nghèo, góp phần cải thiện thị trường tài chính cộng đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống: vốn tín dụng cho người nghèo đã góp phần cải thiện tình hình thị trường tài chính khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người, những vùng có nhiều hộ nghèo sinh sống; hạn chế được nạn cho vay nặng lãi, giảm 10 bớt được tình trạng cầm cố ruộng đất hoặc tình trạng bán sản phẩm non ở các khu vực nông thôn. Khi có nguồn vốn tín dụng đến với những hộ nghèo đã giải toả phần lớn các áp lực về tài chính; nhất là khi hộ nghèo vay vốn bị rủi ro bất khả kháng, tùy mức độ thiệt hại, nhà nước có chính sách xử lý gia hạn nợ, giãn nợ, khoanh hoặc xóa nợ. Năm là, vốn tín dụng NHCSXH cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác góp phần nâng cao thu nhập của đối tượng vay vốn: vốn cung ứng cho đối tượng vay vốn thông qua hình thức tín dụng chính sách đã góp phần tạo cơ hội cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác tăng thu nhập, nâng cao đời sống và giúp nhiều hộ nghèo vượt qua ngưỡng đói nghèo. Tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội 1.
Khái niệm tín dụng chính sách Tín dụng chính sách là hệ thống các biện pháp liên quan đến việc thực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, ổn định xã hội. NHCSXH được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các chương trình tín dụng cho vay ưu đãi đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội (Trần Văn Thường, 2015). Tín dụng chính sách là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động, cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn với các ưu đãi so với tín dụng thông thường, để phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội (Quản Thanh Tùng, 2017). Qua các khái niệm trên, có thể hiểu: Tín dụng chính sách việc Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống cho nhóm người nghèo và các đối tượng chính sách khác dưới hình thức 11 cho vay ưu đãi, điều này cũng sẽ góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.
Đối tượng chính sách là những người nghèo, rất nghèo, những người không có việc làm, thu nhập thấp hoặc những hộ gia đình có công với cách mạng nhưng gặp hoàn cảnh khó khăn, hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa… Các đối tượng chính sách bao gồm: Hộ nghèo; Hộ cận nghèo; Hộ thoát nghèo; Hộ gia đình có công với cách mạng; Hộ gia đình thương binh, liệt sỹ; Hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số có thu nhập thấp; Hộ gia đình đang sinh sống trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai; Hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn; Hộ gia đình đang sinh sống trong vùng đặc biệt khó khăn.