CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY NGUỒN VỐN NHẬN ỦY THÁC ĐỊA PHƯƠNG 1. Những vấn đề cơ bản về ủy thác cho vay nhận ủy thác địa phương 1. Khái niệm và phân loại về ủy thác a) Khái niệm Ủy thác là việc giao cho cá nhân hoặc pháp nhân - bên được ủy thác, nhân danh bên ủy thác để làm một số việc nhất định mà bên ủy thác không thể làm trực tiếp hoặc không muốn làm. Trong luật dân sự, ủy thác là hành vi pháp lý được thực hiện dưới hình thức văn bản - hợp đồng ủy thác, theo đó bên nhận ủy thác, còn gọi là bên nhận làm đại lý được nhân danh và được bên ủy thác, bên giao làm đại lý trả tiền chi phí hoặc được trích trả một số tỷ lệ % tiền thu được để làm một số việc nhất định.
Trong một số luật chuyên ngành, có đề cập đến ủy thác gắn với các phạm trù ủy thác cụ thể, như: Luật thương mại đề cập đến ủy thác mua bán hàng hóa; ủy thác xuất nhập khẩu; Luật chứng khoán đề cập ủy thác đầu tư thông qua hoạt động Quản lý danh mục đầu tư của Công ty Quản lý quỹ; Luật các tổ chức tín dụng đề cập ủy thác liên quan đến hoạt động ngân hàng. Theo Thông tư số 30/2014/TT-NHNN ngày 06/11/2014 quy định về ủy thác và nhận ủy thác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư số 14/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 30/2014/TT-NHNN: Ủy thác là việc một bên (bên ủy thác) giao vốn bằng tiền cho một bên khác (bên nhận ủy thác) để thực hiện các hoạt động như cho vay; cho thuê tài chính; góp vốn, mua cổ phần; đầu tư vào sản xuất, kinh doanh; mua trái 5 phiếu doanh nghiệp đối với đối tượng được thụ hưởng nguồn vốn ủy thác. Bên ủy thác chịu mọi rủi ro, bên nhận ủy thác được hưởng phí ủy thác. b) Phân loại ủy thác liên quan đến hoạt động ngân hàng Ủy thác liên quan đến hoạt động ngân hàng bao gồm các loại hoạt động ủy thác sau: - Ủy thác cho vay là việc bên ủy thác ủy thác cho bên nhận ủy thác để cho vay đối với khách hàng vay vốn.
- Ủy thác cho thuê tài chính là việc bên ủy thác ủy thác cho bên nhận ủy thác để thực hiện cho thuê tài chính đối với khách hàng thuê tài chính. - Ủy thác góp vốn, mua cổ phần là việc bên ủy thác ủy thác cho bên nhận ủy thác để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng. - Ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp là việc bên ủy thác ủy thác cho bên nhận ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp, bao gồm cả trái phiếu chuyển đổi. - Nhận ủy thác đầu tư vào dự án sản xuất, kinh doanh là việc công ty tài chính nhận ủy thác của nhà đầu tư dự án để đầu tư vốn vào dự án sản xuất, kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Trong đề Luận văn này, tác giả tập trung vào nghiên cứu hoạt động ủy thác cho vay. c) Khái niệm về ủy thác cho vay Uỷ thác cho vay là việc bên uỷ thác giao vốn cho bên nhận uỷ thác thông qua hợp đồng uỷ thác cho vay để trực tiếp cho vay đến các đối tượng khách hàng, bên uỷ thác trả phí uỷ thác cho bên nhận uỷ thác. Phí uỷ thác chính là tiền công được người uỷ thác trả cho bên nhận uỷ thác để trực tiếp thực hiện việc cho vay, thu nợ đối với khách hàng trên cơ sở thoả thuận giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác. Ủy thác và nhận uỷ thác cho vay vốn, thu nợ của bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác cho vay nhằm đưa vốn tín dụng của bên uỷ thác thông qua hợp đồng 6 cho bên nhận uỷ thác trực tiếp cho vay đến khách hàng thực hiện phương án, dự án đầu tư phát triển, sản xuất, kinh doanh, sử dụng dịch vụ, nâng cao chất lượng đời sống, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới.
Nguyên tắc ủy thác cho vay Các nguyên tắc ủy thác cho vay bao gồm: - Ủy thác phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản, phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan. Hợp đồng ủy thác do người có đủ thẩm quyền ký kết vào hợp đồng và phải có tối thiểu các nội dung: Tên, địa chỉ của bên ủy thác và bên nhận ủy thác; đối tượng ủy thác; mục đích ủy thác; phạm vi, nội dung ủy thác; thời hạn ủy thác, phí ủy thác; quyền, nghĩa vụ của các bên; xử lý tranh chấp. - Bên ủy thác chỉ được ủy thác cho bên nhận ủy thác thực hiện những nội dung ủy thác mà bên ủy thác được thực hiện và được ủy thác theo quy định của pháp luật; bên nhận ủy thác chỉ được nhận ủy thác đối với những nội dung ủy thác mà bên nhận ủy thác được thực hiện và được nhận ủy thác theo quy định của pháp luật. - Bên nhận ủy thác không được ủy thác lại cho bên thứ ba, trừ trường hợp có sự chấp thuận bằng văn bản của bên ủy thác.
- Bên nhận ủy thác không được sử dụng vốn ủy thác trái với mục đích, nội dung ủy thác được quy định tại hợp đồng ủy thác; chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi được ủy thác và tự chịu trách nhiệm về hành vi vượt giới hạn trách nhiệm ủy thác. - Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ủy thác cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức khác phải tính số dư các khoản ủy thác trong các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. 7 - Bên ủy thác là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro theo quy định của Ngân hàng Nhà nước đối với số dư ủy thác. - Bên nhận ủy thác là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không phải thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro theo quy định của Ngân hàng Nhà nước đối với số dư nhận ủy thác.
- Bên nhận ủy thác phải đảm bảo đủ các điều kiện để đáp ứng được yêu cầu trực tiếp đến từng đối tượng khách hàng như: có mạng lưới tổ chức, đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong lĩnh vực nhận ủy thác; không vi phạm các qui định an toàn trong hoạt động; có tín nhiệm cao. - Bên ủy thác thực hiện hạch toán nội bảng đối với số vốn ủy thác cho bên nhận ủy thác, bên nhận ủy thác thực hiện hạch toán ngoại bảng đối với số vốn nhận ủy thác theo quy định của pháp luật về kế toán. - Bên nhận ủy thác được bên ủy thác chi trả phí ủy thác (thù lao), thường là chi phí hoặc trích % tiền thu được từ thực hiện nội dung ủy thác, được quy định tại hợp đồng ủy thác. - Đối tượng thụ hưởng nguồn vốn ủy thác (khách hàng) có nhu cầu sẽ gặp trực tiếp với bên nhận uỷ thác để thực hiện giao dịch, làm việc.
Hiệu quả cho vay nguồn vốn nhận ủy thác địa phương 1. Khái niệm về hiệu quả cho vay nguồn vốn nhận ủy thác địa phương Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt, “Hiệu quả là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại”, trong đó kết quả là cái đạt được, thu được trong một công việc, một quá trình tiến triển của sự vật. Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các 8 biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó.
Hiệu quả có thể hiểu đó là sự so sánh kết quả đầu ra và yếu tố nguồn lực đầu vào. Kết quả đầu ra thể hiện mục tiêu mong muốn mà chủ thể đạt được, còn nguồn lực đầu vào là các nguồn nhân lực, vật lực và tài lực được sử dụng đầu tư để đưa lại kết quả mong đợi đó.Nordhous (2011) quan điểm “Hiệu quả nghĩa là không lãng phí”. Có thể hiểu là với cùng một kết quả thu được, hoạt động nào chi phí thấp hơn thì hoạt động đó được coi là hiệu quả hơn. Quan niệm này so sánh kết quả với chi phí bỏ ra và đặt mục tiêu tiết kiệm chi phí.
Cho vay nguồn vốn UTĐP là hoạt động mà bên ủy thác là chính quyền địa phương hoặc các chủ đầu tư khác ủy thác cho các TCTD để đầu tư cho vay các dự án, đối tượng theo chỉ định nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, tạo việc làm, đảm bảo an sinh xã hội theo mục tiêu của từng địa phương. Cho vay nguồn vốn UTĐP thông qua các TCTD phải đảm bảo được mục tiêu của nguồn vốn và mục tiêu cho vay của TCTD. Vì vậy, khi nghiên cứu hiệu quả cho nguồn vốn UTĐP tại các TCTD, luận văn phân tích trên 2 giác độ: (1) Hiệu quả sử dụng nguồn vốn cho vay UTĐP của các đối tối tượng thụ hưởng; (2) Hiệu quả đối với TCTD trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển. Từ những phân tích nêu trên, tác giả cho rẳng: Hiệu quả cho vay nguồn vốn nhận ủy thác tại địa phương là phạm trù kinh tế phản ánh mức độ đạt được mục tiêu của nhà nước đối với công tác xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu của TCTD thông qua việc đầu tư cho vay các đối tượng chính sách để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh.
Trên giác độ thực hiện mục tiêu của TCTD, hiệu quả cho vay nguồn vốn 9 UTĐP được đo lường và phân tích gắn với các tiêu chí về tăng trưởng quy mô nguồn vốn, dư nợ cho vay, chất lượng cho vay, cũng như kết quả cho vay nguồn vốn UTĐP của TCTD. Hiệu quả phản ánh mức độ đóng góp của hoạt động cho vay nguồn vốn UTĐP trong việc thực hiện sứ mạng và mục tiêu chiến lược của TCTD. Trên giác độ thực hiện mục tiêu phát triển KTXH, hiệu quả cho vay nguồn vốn UTĐP tại TCTD thể hiện sự đóng góp nguồn lực trong thực hiện hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội của địa phương.