Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.Khái niệm và những đặc trưng cơ bản về tín dụng chính sách 1. Chính sách tín dụng Chính sách tín dụng là một bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế, phục vụ chính sách kinh tế và chịu sự chi phối của chính sách kinh tế. Đảng và Nhà nước chúng ta đã có nhiều nghị quyết đề cập đến vấn đề cũng cố và tăng cường công tác tín dụng. Vấn đề đặt ra là phải có chính sách tín dụng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nước ta.
Nhà nước có chính sách động viên các nguồn lực trong nước là chính và tranh thủ tối đa nguồn lực nước ngoài; mở rộng đầu tư tín dụng, góp phần giải phóng năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, bảo đảm cho doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ quyền quốc gia; bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia; mở rộng hợp tác quốc tế và hội nhập quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân [7,tr2]. Nói cách khác, chính sách tín dụng bao gồm việc đưa ra quan điểm có cơ sở khoa học về việc tổ chức các quan hệ tín dụng và đề ra các nhiệm vụ trong lĩnh vực cho vay nền kinh tế quốc dân và dân cư. Việc kết hợp các phương pháp tài chính và tín dụng trong việc phân phối và phân phối lại tiền vốn, các liên hệ lẫn nhau của việc cho vay với việc tổ chức chu chuyển tiền tệ, các nguyên tắc chủ yếu của cho vay, tương quan của các phương pháp kinh tế và tổ chức trong hoạt động tín dụng. Đối với một ngân hàng thương mại, chính sách tín dụng là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc khuyếch trương tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt được ___________________________________________________________________________ Trang 2 ___________________________________ mục tiêu đã hoạch định của ngân hàng thương mại đó và hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn trong kinh doanh tín dụng của ngân hàng.
Đối với NHCSXH là ngân hàng của Nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, chính sách tín dụng là để phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội nhất định của quốc gia.Tín dụng chính sách Tín dụng chính sách là công cụ tài chính quan trọng, là hệ thống các biện pháp liên quan đến việc thực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ để thực hiện các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế và XĐGN. Hiện nay NHCSXH được giao nhiệm vụ thực hiện chương trình cho tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Vai trò của tín dụng Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội Vai trò quan trọng của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy mạnh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu thụ sản xuất.
Một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng không những thoả mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguồn vốn cho các chủ thể kinh doanh. Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức tín dụng sẽ tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh khi nó không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của bản thân. Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao hiệu lực sản xuất của xã hội. ___________________________________________________________________________ Trang 3 ___________________________________ Các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theo các điều kiện tín dụng để hạn chế rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn đối nghịch buộc những người đi vay phải quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổ chức cung ứng tín dụng.
Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô Các mục tiêu vĩ mô bao gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Việc đảm bảo đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hoà một phần phụ thuộc vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng như đối tượng tín dụng. Vấn đề này, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào các điều kiện tín dụng như lãi suất; điều kiện vay; yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng được quy định trong chính sách tín dụng từng thời kỳ. Như vậy thông qua việc thay đổi, điều chỉnh các điều kiện tín dụng, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế cả về quy mô cũng như kết cấu.
Sự thay đổi của tổng cầu dưới dạng tác động của chính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại với tổng cung và các điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô cần thiết. Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội Các chính sách xã hội, về bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ không hoàn lại từ Ngân sách Nhà nước. Song phương thức tài trợ không hoàn lại thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu quả.
Để khắc phục hạn chế này, phương thức tài trợ không hoàn lại có xu hướng thay bởi phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng nhằm duy trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng chính sách. Thông qua phương thức tài trợ này, các mục tiêu chính sách được đáp ứng một cách chủ động và hiệu quả hơn. Khi đó các đối tượng chính sách buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả đúng thời hạn thì kỹ năng lao động của họ cũng sẽ được ___________________________________________________________________________ Trang 4 ___________________________________ cải thiện từng bước. Đây là sự bảo đảm chắc chắn cho sự ổn định tài chính của các đối tượng chính sách và từng bước làm cho họ có thể tồn tại độc lập với nguồn tài trợ.
Đó chính là mục đích của việc sử dụng phương thức tài trợ các mục tiêu chính sách thông qua con đường tín dụng. Tín dụng góp phần phát triển các mối quan hệ quốc tế Tín dụng còn có vai trò quan trọng để mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng giao lưu quốc tế. Sự phát triển của tín dụng không những ở phạm vi quốc nội, mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế, nhờ đó mà thúc đẩy mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại, nhằm giúp đỡ và giải quyết các nhu cầu lẫn nhau trong quá trình phát triển đi lên của mỗi nước, làm cho các nước có điều kiện xích lại gần nhau hơn và cùng phát triển. Ngoài những vai trò chung của tín dụng nêu trên, tín dụng chính sách còn có vai trò riêng của nó như: Cho vay chính sách có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, góp phần làm cho chính sách của Chính phủ thành công, tạo sự phát triển kinh tế đúng hướng và ổn định xã hội.
Thông qua phương thức tín dụng nhằm tập trung tốt hơn các nguồn lực để hỗ trợ tài chính đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Cho vay chính sách có hiệu quả hơn so với phương thức cấp phát vốn. Bởi vì, việc hỗ trợ vốn theo phương thức hoàn trả nên nguồn vốn được sử dụng nhiều lần, giúp nhiều người hưởng lợi. Tạo các tác động tích cực đến người vay, người vay vốn tìm cách sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất, tạo ra thu nhập để cải thiện đời sống và trả được nợ.
Giúp người vay cảm thấy tự tin khi nhận vốn vay, tin tưởng vào khả năng sử dụng vốn để sản xuất kinh doanh của mình, xoá bỏ tư tưởng ỷ lại. Góp phần quan trọng vào việc xoá bỏ cho vay nặng lãi ở nông thôn. ___________________________________________________________________________ Trang 5 ___________________________________ Tín dụng chính sách góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội góp phần xây dựng nông thôn mới. Tín dụng chính sách vừa có vai trò trung gian tài chính, vừa có vai trò trung gian xã hội.
Thực hiện những vai trò đó sẽ từng bước xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Khẳng định một chủ trương, giải pháp đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc XĐGN. Đặc thù hoạt động tín dụng của NHCSXH Hiện nay ở nước ta đã thành lập NHCSXH để thực hiện nhiệm vụ tín dụng chính sách theo quy định tại Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.Đặc thù về nguồn vốn Đặc thù của NHCSXH thường là cho vay theo mục tiêu chính sách, lãi suất cho vay thường thấp hơn lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại, hoạt động phi lợi nhuận nên vốn huy động phải có lãi suất thấp. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc, nhưng đó cũng là thách thức trong hoạt động tạo vốn của NHCSXH.
Trong khi hoạt động đặc trưng của các ngân hàng thương mại là “ đi vay” để cho vay, hay nói các khác là đi huy động các nguồn vốn nhàn rỗi, hoạt động bằng các hoạt động kinh doanh vốn trên thị trường tiền tệ để cho vay, đầu tư… đáp ứng vốn cho sự phát triển kinh tế thì nguồn vốn của NHCSXH lại được tạo lập chủ yếu từ Ngân sách Nhà nước theo các hình thức như: - Cấp vốn điều lệ và hàng năm được ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương cấp vốn để thực hiện chương trình tín dụng cho các đối tượng chính sách theo vùng, theo đối tượng, theo mục tiêu và theo cơ chế cụ thể. ___________________________________________________________________________ Trang 6 ___________________________________ - Nguồn vốn ODA dành cho chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ.