Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ tại Vietinbank – Chi nhánh Bắc Sài Gòn Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ tại Vietinbank – Chi nhánh Bắc Sài Gòn.6 Ý nghĩa, thực tiễn và điểm mới của luận văn Luận văn đã đưa ra hệ thống các tiêu chí đo lường hiệu quả tín dụng bán lẻ, phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng bán lẻ và áp dụng các tiêu chí để đánh giá hiệu quả tín dụng bán lẻ của Vietinbank Chi nhánh Bắc Sài Gòn trong giai đoạn năm 2015-2018. Bên cạnh đó, luận văn cũng có những đóng góp hữu ích để tìm ra được những thuận lợi, khó khăn, những tồn tại trong quản lý, 3 điều hành của ngân hàng đồng thời đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng của Vietinbank Chi nhánh Bắc Sài Gòn trong thời gian tới. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương 2 trình bày sơ lược về lý thuyết nền tảng tín dụng bán lẻ, hiệu quả tín dụng, hiệu quả tín dụng bán lẻ và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng bán lẻ.
Bên cạnh đó, trên cơ sở tiếp cận các bài nghiên cứu trong và ngoài nước, đưa ra các yếu tố chính sẽ sử dụng để phân tích và đánh giá hiệu quả tín dụng bán lẻ tại Vietinbank Chi nhánh Bắc Sài Gòn.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm tín dụng Về mặt hình thức, tín dụng là một sự vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay. Về mặt nội dung kinh tế, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị có biểu hiện bằng tiền hoặc hiện vật từ chủ thể này sang chủ thể khác với điều kiện phải hoàn trả theo những thỏa thuận trước giữa hai bên. Nội dung chính của sự thỏa thuận đó là: thời hạn phải trả, số tiền lãi phải trả, cách thức phải trả. Trong Mục 16 – Điều 4 – Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 định nghĩa như sau: “ Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Theo Nhà triết học Các Mác (1987), cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Đối với quan điểm này, phạm trù tín dụng có thể được hiểu theo ba nội dung chủ yếu đó là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả. Do vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay thông qua sự vận động của giá trị, 5 vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa. Tuy nhiên, khái niệm này lại không đề cập đến mục đích khoản vay.
Từ các phân tích trên, có thể khái quát hoạt động tín dụng dựa trên nguyên tắc khoản vay phải dùng cho một mục đích nhất định, người vay phải hoàn trả lại khoản vay theo thời gian cam kết, với giá trị cao hơn so với giá trị ban đầu (bao gồm khoản gốc và lãi).2 Tín dụng bán lẻ Dựa trên các điều luật, văn bản, khái niệm về tín dụng nêu trên, đặc biệt là Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật số 47/2010/QH12) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2017 (Luật số 17/2017/QH14), tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước, có thể phân tích và đưa ra khái niệm như sau “Tín dụng bán lẻ là hình thức tín dụng mà trong đó ngân hàng thương mại đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho rằng dịch vụ Ngân hàng bán lẻ là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng, nơi khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại chi nhánh/phòng giao dịch của ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: Gửi tiền tiết kiệm và kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khác đi kèm. Hiện nay, với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ, khách hàng hoàn toàn không phải đến các điểm giao dịch để thực hiện các giao dịch ngân hàng mà sử dụng các dịch vụ e-banking (ngân hàng điện tử). Khái niệm này vẫn còn bị giới hạn bởi các phương thức giao dịch truyền thống (qua chi nhánh) với các sản phẩm truyển thống.
Với các chuyên gia kinh tế học của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT, họ cho rằng dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới 6 từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Định nghĩa này đã mở rộng phạm vi thực hiện giao dịch sang các dịch vụ self-service (khách hàng tự thực hiện mà không cần sự hỗ trợ từ nhân viên ngân hàng tại điểm giao dịch thông qua các ứng dụng công nghệ thông tin và điện tử viễn thông), đồng thời mở rộng đối tượng khách hàng bán lẻ theo định nghĩa trước đó chỉ là khách hàng cá nhân, nay đã có khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ các cách hiểu trên có thể đi đến một khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đó là dịch vụ ngân hàng được cung ứng đến từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện thông tin điện tử viễn thông.84) Ngân hàng bán lẻ là tập hợp các sản phẩm và dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua chi nhánh, Internet và các kênh bán hàng khác. Ngân hàng tổ chức các hoạt động bán lẻ thông qua ba chiều bổ sung lẫn nhau: phục vụ khách hàng, cung cấp sản phẩm, dịch vụ và các kênh phân phối liên kết khách hàng.
Khái niệm bán lẻ đề cập tới cả hai nhóm đối tượng là khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mặc dù, khái niệm ngân hàng bán lẻ và tín dụng bán lẻ được sử dụng như hai từ tương đồng, tuy nhiên, thực chất tín dụng bán lẻ bán lẻ là một phần thuộc ngân hàng bán lẻ cung cấp các sản phẩm cho vay khác nhau đến với khách hàng. Nhu cầu về tín dụng ngân hàng ngày càng cao, nhất là về tín dụng bán lẻ trong nền kinh tế mở. Khách hàng bán lẻ, hay còn được gọi là khách hàng cá nhân, được hiểu là cá nhân và hộ kinh doanh cá thể/gia đình.
Mục tiêu của tín dụng bán lẻ là khách hàng cá nhân nên các dịch vụ thường đơn giản, dễ thực hiện và thường xuyên, tập trung vào dịch vụ vay vốn và mở thẻ tín dụng,… Tín dụng bán lẻ bao gồm các sản phẩm liên quan tới cho vay cũng như các dịch vụ tài chính khác cung cấp cho tiêu dùng cá nhân. 7 Tín dụng bán lẻ đóng góp lớn đến sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Tín dụng bán lẻ nhanh chóng thu hút được nhiều khách hàng và có tiềm năng phát triển rất lớn. Điểm thuận lợi của Việt Nam là quy mô thị trường dân số đông (hơn 90 triệu người) với độ tuổi trẻ, thu nhập ngày càng cao và nhu cầu chi tiêu cho nhiều mục đích.
Hiện nay, xu hướng tiêu dùng trước và trả sau để đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của cuộc sống đang tăng nhanh, nhất là ở các thành phố lớn. Vì thế, các sản phẩm tín dụng bán lẻ của ngân hàng được khách hàng rất quan tâm. Đây là cơ sở để các ngân hàng tự tin đẩy mạnh mảng kinh doanh tín dụng bán lẻ.3 Đặc điểm tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại Thứ nhất, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn. So với việc cho vay sản xuất kinh doanh, giá trị các khoản tín dụng cá nhân không lớn.
Điều này một phần do giá trị hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở mức vừa phải. Mặt khác, đa số các khách hàng vay vốn đã có sự tích lũy từ trước đối với các tài sản có giá trị lớn, họ chỉ tìm đến ngân hàng với mục đích hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng cá nhân. Tuy quy mô khoản vay này là nhỏ nhưng tổng quy mô tín dụng của ngân hàng lại rất lớn, do số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn tín dụng cá nhân lớn. Thứ hai, các khoản tín dụng cá nhân có mức lãi suất cho vay chưa linh hoạt.
Khách hàng cá nhân thường ít nhạy cảm đến lãi suất, họ thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh, lãi suất được điều chỉnh theo thị trường, lãi suất tín dụng cá nhân thường được ấn định tại một mức nhất định. Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất được ấn định ngày từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời hạn vay.